Ông cha xứ của tôi

16/12/20251:10 CH(Xem: 795)
Ông cha xứ của tôi

Ông cha xứ của tôi

 aaa

  

Phạm Quốc Thanh

 

Lâu lắm rồi người giáo dân mới có một trang web đặc biệt của mình để nói lên tiếng nói thật sự của mình để xây dựng Giáo Hội, với mục đích nêu lên những sự thật để đề nghị Giáo Hội sửa sai cho hợp với thời đại và xã hội mới. Chúng tôi cũng đã nghe hoặc đọc nhiều ý kiến của những giáo dân nói về một số các linh mục coi giáo dân như cục đất, có vẻ khinh chê giáo dân là thành phần ít học, rồi dùng tòa giảng để mạt sát, nói bóng nói gió chửi xéo giáo dân. Tôi nghĩ mà chán ngán vì trong thời đại văn minh này mà vẫn còn các chủ chăn như thế thì lạ thật. Có lẽ là vì giáo dân người Việt chúng ta hay nể vì, sợ sệt chưa dám đặt thẳng vấn đề với vị linh mục hay chưa báo cáo với Đức Giám Mục sở tại.
Chúng tôi cũng nhân cơ hội này xin gửi bài để chia sẻ về cha xứ của chúng tôi. Phải nói ngay là đây là lần đầu tiên mà chúng tôi được gặp một linh mục như thế cả từ hồi còn ở Việt-Nam cũng vậy. Vị linh mục này thật sự quả là khiêm nhường, ăn nói nhỏ nhẹ, lễ phép với mọi người.
Không phải mình tôi nhận xét như vậy đâu, quý vị có thể hỏi từ các em bé thiếu nhi thánh thể đến các vị bô lão toàn giáo dân có đến 3,4 ngàn người của thành phố thủ phủ một Tiểu Bang miền núi này xem. Vị linh mục này tuổi khoảng trên dưới 50, gặp các ông bà lớn tuổi thì thưa Ông, Bà, Bác, Cụ và tự xưng ngay là Con. Đối với những người thân tình với cha, có khi cha còn thưa «Bố và xưng Con nữa». Đối với giáo dân cùng lứa tuổi, thì cha gọi họ là Cậu, xưng là Tớ như bạn bè thân thiết. Chỉ đối với các em nhỏ, ngài mới gọi là con và xưng là Cha mà thôi. Có một số giáo dân bảo thủ nói là cha nói như vậy không được, thì Ngài trả lời ngay: 
«Tuổi tôi chỉ đáng là con là cháu mấy quý vị ấy mà thôi. Tôi vẫn là người Việt-Nam nên tôi phải giữ đúng lễ giáo và phép lịch sự. Không phải tôi có chức linh mục mà tôi có quyền coi thường người khác được. Ông bà cha mẹ trong gia đình tôi vẫn căn dặn tôi vậy. Tôi muốn được kính trọng thì tôi phải kính trọng người khác trước đã. Nếu tôi không kính trọng giáo dân của tôi, thì có thể bề ngoài họ gọi tôi là Cha là Cố nhưng trong lòng họ không nể phục. Những điều tôi nói ra đây có thể một số anh em linh mục khác không đồng ý, nhưng đó là quyền của các vị ấy. Giáo Hội Công Giáo chúng ta đã bước vào thiên niên kỷ thứ 3 rồi với bao đổi mới trên thế giới, bao canh tân chuyển biến, cạm bẫy ngoài xã hội, mà Giáo Hội không cải tiến cho kịp với trào lưu thì không thể được.»
Chính mắt chúng tôi được chứng kiến một hôm vị linh mục trẻ này được mời đến dùng bữa cơm tại một nhà người quen trong đó có mời một vị bô lão khoảng trên 80 tuổi khác. Khi vào bàn ăn, chủ nhà mời linh mục vào đầu bàn là chỗ vị vọng nhất theo kiểu người Việt-Nam thì vị linh mục trẻ nhất định từ chối nhường cho vị bô lão kia. Nói thế nào cũng không được. vị linh mục thưa với vị bô lão: 
«Thưa Bác, Bác còn hơn tuổi Ba con nữa, con thật sự chỉ đáng làm con, làm cháu Bác thôi. Con không dám, xin mời Bác cứ tự nhiên cho. Áo chùng thâm của con, chỉ giúp con làm việc thôi, chứ không tự nâng con lên cao được. Con chỉ xin phép xướng kinh cám ơn Chúa cho chúng ta bữa ăn hôm nay thôi.» 
Việc trong nhà xứ, thì cha rất hăng say làm việc giúp những công việc tầm thường nhất như lượm rác quanh nhà thờ, quét nhà trong khu nhà ăn, phụ giúp những người làm bếp. Trong lúc hành lễ, những bài giảng của Ngài được soạn công phu, súc tích, ngắn gọn đi vào đúng vấn đề. Đặc biệt luôn luôn pha vào chút ý nhị gây tiếng cười làm mọi người thích thú nghe và không thế nào ngủ gật được. Không bao giờ Ngài dùng toà giảng để nói động bài xích đến một ai, dù một em bé.
Ngài nói là: «Tôi mong muốn giáo dân tham gia hăng say vào việc của giáo xứ vì giáo xứ là của giáo dân. Giáo xứ mà không có giáo dân thì chắc chắn sẽ bị đóng cửa. Tôi không ở đây suốt đời vì phải vâng lời bề trên di chuyển đến những giáo xứ khác. Vậy cơ sở này là của tất cả quý vị. Vai trò đích thực của linh mục chúng tôi là phải theo chân Chúa Kitô đi phục vụ, rao giảng Tin Mừng để đem người đời về với Chúa».
Ngài rất chú trọng giảng giải rõ ràng về đức công bằng và luôn luôn khuyên nhủ giáo dân sống công bằng vì việc đầu tiên khi bị luận tội là phép công bằng. Ngài nói: «Người giáo dân nếu sống không công bằng, ăn gian tiền của chính phủ, khai gian lận để hưởng quyền lợi xã hội, lấy lại tiền thuế, ăn welfare, tiền già, tiền bệnh thì đã lỗi luật của nhà nước rồi, chứ đừng nói gì đến luật của Giáo Hội Công Giáo. Không phải ta mang cái mác công giáo mà có quyền phạm luật đời đâu.»
Ngài luôn luôn hỏi Hội Đồng Giáo Xứ danh sách cập nhật mới nhất các giáo dân đang nằm bệnh viện và thay phiên đến thăm từng bệnh nhân tại các bệnh viện hàng tuần. Lúc vào thăm là Ngài rủ bệnh nhân và gia đình cùng đọc kinh cầu nguyện với Ngài một cách rất sốt sắng. Khi bệnh nhân được xuất viện, Ngài cũng lần đến tư gia để thăm hỏi ủi an.
Ngài mới đến giáo xứ chúng tôi chưa được một năm mà Ngài đã đem trở lại bao nhiêu giáo dân trước đây đã từ bỏ giáo xứ. Chính những người này bây giờ đây lại hăng say hơn ai hết đem hết khả năng tài trí giúp giáo xứ thăng tiến. Gia đình chúng tôi đã định cư tại thành phố này trên 25 năm qua bao nhiêu đời cha xứ đi và đến, chưa bao giờ chúng tôi có diễm phúc được một vị chủ chăn như vậy. Xin tạ ơn Chúa!

Phạm Quốc Thanh
(Trích trong Tuần báo điện tử

Maranatha số 1, tháng 5/2004)

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
21/01/2026(Xem: 18)
Là một nhà cách mạng tôn giáo, nhưng Đức Giêsu lại xuất thân từ Nadarét, thuộc vùng Galilê (miền Bắc) là «miền đất của dân ngoại», chứ Ngài không xuất thân ở vùng Giuđê (miền Nam) là vùng của người đạo Do thái với kinh đô và đền thờ Giêrusalem. Vì thế, Đức Giêsu được gọi là «người Galilê», điều này trái với quan niệm chung của người đạo Do Thái.
19/01/2026(Xem: 48)
Dân Do Thái được Thiên Chúa tuyển chọn làm dân riêng của Ngài, đó là điều thật hạnh phúc cho họ. Nhưng thay vì sống theo tinh thần khiêm cung của Ngài, họ lại lên mặt và khinh chê dân ngoại. Vì thế, khi Đấng Cứu Thế đến, Thiên Chúa đã không để cho vùng Giuđa – vùng đông người có đạo nhất – được vinh dự là nơi xuất thân của Đấng Cứu Thế. Mong rằng Giáo Hội không đi vào vết xe đã đổ!
14/01/2026(Xem: 410)
Vì tha thiết yêu thương nhân loại, Đức Giêsu đã trở nên «con chiên bị sát tế», đã chết cách thê thảm để cứu chuộc nhân loại. Và sự hy sinh ấy chính là cách Ngài thờ phượng và bày tỏ tình yêu đối với Thiên Chúa Cha, Cha của Ngài. Đó là cách thờ phượng và yêu mến Thiên Chúa tuyệt vời nhất, đẹp lòng Thiên Chúa nhất, mà chính Đức Giêsu đã làm gương để chúng ta làm theo.
14/01/2026(Xem: 406)
Đã là ngôn sứ thì phải dám nói lên tiếng nói của chân lý, công lý và tình thương, đồng thời dám trả giá rất cao, có khi bằng cả mạng sống của mình, cho lời chứng của mình giống như Gioan. Đó là đặc điểm không thể thiếu của những ngôn sứ đến từ Thiên Chúa. Người sợ hy sinh, không chấp nhận trả giá, chắc chắn không phải là ngôn sứ thật, dù họ có mang danh là đại ngôn sứ chăng nữa!
05/01/2026(Xem: 495)
Đức Giêsu hoàn toàn vô tội, nhưng Ngài mang sứ mạng đặc biệt là gánh tội trần gian, và chấp nhận chịu chết để đền tội cho trần gian trước mặt Thiên Chúa. Vì thế, Ngài đã trở thành «hiện thân của tội lỗi», như thánh Phaolô nói: «Thiên Chúa đã biến Người thành hiện thân của tội lỗi vì chúng ta» (2Cr 5:21).
FOLLOW US
ĐĂNG KÝ NHẬN TIN MỚI
Thông tin của bạn được giữ kín tuyệt đối và có thể hủy đăng ký bất cứ lúc nào. Nhập địa chỉ email của bạn
THÔNG TIN LIÊN LẠC