Luật nhân quả trong 8 mối phúc của Tin Mừng

28/01/20268:16 SA(Xem: 682)
Luật nhân quả trong 8 mối phúc của Tin Mừng

Luật nhân quả

trong 8 mối phúc của Tin Mừng

 aaa

 

TIN MỪNG: Mt 5:1-12
Tám mối Phúc
(1) Thấy đám đông, Đức Giêsu lên núi. Người ngồi xuống, các môn đệ đến gần bên. (2) Người mở miệng dạy họ rằng: (3) «Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ. (4) Phúc thay ai hiền lành, vì họ sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp. (5) Phúc thay ai sầu khổ, vì họ sẽ được Thiên Chúa ủi an. (6) Phúc thay ai khát khao nên người công chính, vì họ sẽ được Thiên Chúa cho thoả lòng. (7) Phúc thay ai xót thương người, vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương. (8) Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch, vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa. (9) Phúc thay ai xây dựng hoà bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa. (10) Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính, vì Nước Trời là của họ. (11) Phúc thay anh em khi vì Thầy mà bị người ta sỉ vả, bách hại và vu khống đủ điều xấu xa. (12) Anh em hãy vui mừng hớn hở, vì phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao».
 
CHIA SẺ
1. Luật nhân quả
Trên đời, có một định luật phổ biến mà bất cứ ai, bất cứ tôn giáo hay nền văn hóa nào cũng phải công nhận, đó là luật nhân quả. Luật nhân quả được phát biểu như sau: «Bất cứ một sự việc, biến cố nào cũng đều phải có nguyên nhân sinh ra nó, và chính nó lại là nguyên nhân phát sinh một hậu quả nào đó». Có thể phát biểu một cách khác như: «Không một sự việc hay biến cố nào xảy ra mà không có nguyên nhân, mà không tạo nên một hậu quả nào đó». Tương quan giữa nhân và quả là «nhân nào quả nấy»: nhân xấu thì quả xấu, nhân tốt thì quả tốt.
Trong Tin Mừng, Đức Giêsu đã nói về định luật nhân quả qua những câu như: «Hễ cây tốt thì sinh quả tốt, cây xấu thì sinh quả xấu. Cây tốt không thể sinh quả xấu, cũng như cây xấu không thể sinh quả tốt» (Mt 7:17-18), «Tất cả những ai cầm gươm sẽ chết vì gươm» (Mt 26:52), Cựu Ước cũng có những câu như: «Kẻ nào ăn nho xanh, kẻ ấy sẽ bị ghê răng» (Gr 31:30), «Đời cha ăn nho xanh, đời con phải ê răng» (Ed 18:2). Trong những câu này, nhân và quả tương ứng với nhau.
Nhưng Thánh Kinh còn cho biết giữa nhân và quả cũng có sự đối nghịch nhau: «Ai tôn mình lên, sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống, sẽ được tôn lên» (Mt 23:12), hay «Gieo trong đau thương sẽ gặt giữa vui mừng; đi khóc lóc u sầu sẽ về giữa muôn lời ca» (Tv 126:5-6).
Bài Tin Mừng trên là một ứng dụng khôn ngoan và phong phú của định luật nhân quả.
 
2. Tám mối phúc thật
Có một số tiền, ta có thể sử dụng nó theo hai cách căn bản:
Một là lấy chính số tiền ấy để mua món này vật kia cho đến hết. Và khi hết thì ta lại lâm vào cảnh túng thiếu, khổ sở. Vì thế, người tiêu hoang thì chóng nghèo hơn người biết tiết kiệm. Nhưng dù món tiền lớn đến đâu, dù ta tiêu tiết kiệm hoặc hà tiện đến mức nào, thì tiền tiêu hoài cũng có lúc hết: «Miệng ăn, núi lở».
Hai là đem số tiền ấy ra kinh doanh, để tiền lại làm ra tiền, nhờ vậy, mình tiêu hoài không hết. Nhưng đem tiền ra kinh doanh có nghĩa là phải tiêu số tiền đó vào một việc gì đó ích lợi cho người khác, nhằm phục vụ lợi ích người khác chứ không phải lợi ích của mình. Người khác có cảm thấy họ được phục vụ tốt thì họ mới cần tới mình, cần tới món hàng mình. Như vậy, mình hành động vì lợi ích của người khác mà cuối cùng mình lại có lợi, và cái lợi này mới thật sự lâu bền. Nhiều người kinh doanh chẳng những có tiền tiêu hoài, mà còn trở nên giàu có tột bậc.
So sánh hai cách tiêu tiền ấy, thì cách thứ hai khôn ngoan và có lợi cho mình hơn rất nhiều. Đó chỉ là một minh họa nghèo nàn dẫn chúng ta vào sự khôn ngoan của «tám mối phúc» mà Đức Giêsu giới thiệu cho ta. Hai cách tiêu tiền ấy tương ứng với hai cách sống: sống ích kỷ và sống yêu thương. Sống ích kỷ thì có lợi trước mắt, nhưng xét theo lâu dài thì rất bất lợi. Sống yêu thương là làm cho người khác hạnh phúc, trước mắt thì mình bị thiệt hại, đau khổ; nhưng xét theo lâu dài thì nó đem lại hạnh phúc cho mình gấp bội cách sống ích kỷ. Như thế, ta thấy ích kỷ lợi một và ngắn hạn, còn vị tha hay yêu thương thì lợi mười và lâu dài. Sự lâu dài này không có nghĩa là cứ phải qua đời sau mới nhận được lợi ích của nó, mà trong đa số trường hợp là được hưởng ở ngay đời này.
 
a. Mối phúc căn bản: sống nghèo vì người khác
Mối phúc thứ nhất là sống nghèo vì người khác. Phải sống nghèo cho người khác thì mới là phúc thật. Còn sống nghèo khó hầu cho số tiền mình để dành ngày càng nhiều lên thì đó là hà tiện chứ không phải là sống nghèo khó theo Tin Mừng. Rất nhiều người hiểu lầm về đức khó nghèo. Họ tưởng họ có nhân đức khó nghèo khi họ tiêu xài một cách hà tiện, sống y như một người nghèo. Nhưng số tiền đáng lẽ phải chi mà không chi, thay vì giúp ích cho một ai đó nghèo hơn thì họ lại cất đi, khiến họ càng có nhiều tiền trong kho hay nhà băng hơn. Khó nghèo như thế thì nào có giúp ích gì cho ai? Thậm chí còn làm cho người nghèo nghèo hơn, vì của cải tập trung vào kho của những người hà tiện như thế.
Cái nghèo mà Đức Giêsu muốn nói đến, là nghèo vì yêu thương tha nhân. Nghèo vì cho đi, vì muốn làm lợi ích cho người khác thì cái nghèo đó mới gọi là đức khó nghèo. Vì thế, giữa đức khó nghèo và đức bác ái có tương quan với nhau. Khó nghèo để bác ái. Khó nghèo là một phương tiện cụ thể để thực thi bác ái. Khó nghèo mà không vì đức ái thì trở thành hà tiện, đó là một trong bảy mối tội.
Khó nghèo không hẳn chỉ là do bố thí. Dùng rất nhiều thì giờ để lao động tay chân hay trí óc hầu phục vụ một nhu cầu nào đó của tha nhân, của Giáo Hội hay xã hội thay vì dùng thì giờ đó để làm việc khác có kinh tế hơn, thì đó chính là thực hành đức khó nghèo, mặc dù trong thực tế người ấy vẫn có thể giàu có. Còn người nghèo mà muốn tận dụng hết thì giờ để lo kiếm tiền, không bao giờ muốn hy sinh một giây phút nào để làm việc cho người khác, thì người ấy chẳng thực hiện đức khó nghèo một chút nào, dù rằng người ấy rất nghèo.
Vậy có thể nói: tâm hồn khó nghèo của Tin Mừng là tâm hồn sẵn sàng chấp nhận mất mát (thì giờ, vật chất, sức lực, của cải, sự quan tâm) vì yêu thương tha nhân, để mưu hạnh phúc hay ích lợi cho họ. Một người có tinh thần phục vụ cao, dám thật sự hy sinh cho tha nhân như vậy chắc chắn sẽ được mọi người quí trọng, yêu mến, được tín nhiệm, được giao cho những trọng trách trong xã hội hay Giáo Hội, nên có địa vị cao, vì thế có thể có một đời sống đầy đủ cả về tinh thần lẫn vật chất. Một người như vậy thì tình yêu hay Nước Trời ở ngay trong lòng họ: tinh thần họ luôn luôn bình an và tràn đầy niềm vui vì đã làm cho những người chung quanh được hạnh phúc. Họ có thể được hạnh phúc cả đời này lẫn đời sau.
Ta có thể hiểu những mối phúc khác một cách tương tự như thế.
 
b. Cả tám mối phúc đều là hệ luận của một mối phúc căn bản
Mối phúc căn bản là sống vị tha: nghĩa là thật sự sống vì Chúa, vì tha nhân, sẵn sàng chịu thiệt hại, mất mát, đau khổ vì lợi ích hay hạnh phúc của tha nhân. Như đã nói trên, sống như thế cũng giống như đem tiền ra đầu tư, đem hạt giống ra gieo, tuy trước mắt là mất mát, thiệt thòi, nhưng cuối cùng mình lại gặt hái nhiều hơn gấp bội.
Tất cả các mối phúc đều có hai vế: vế thứ nhất là nhân, vế thứ hai là quả; vế thứ nhất là gieo, vế thứ hai là gặt; vế thứ nhất là mình vì người khác, vế thứ hai là người khác vì mình; vế thứ nhất là đau khổ, vế thứ hai là hạnh phúc. Tất cả các mệnh đề trong vế thứ nhất đều phải hiểu ngầm mấy chữ này: «vì Chúa, vì tha nhân», nghĩa là nghèo vì tha nhân, hiền lành vì tha nhân, sầu khổ vì tha nhân, v.v… Nếu không do tự nguyện vì Chúa, vì tha nhân, thì sự nghèo, sự hiền lành, nỗi sầu khổ… ta phải chịu đều là tai họa chứ không phải là phúc đức.
 
c. Chứng nghiệm:
Kinh nghiệm trong cuộc đời cho ta thấy: những người có tâm hồn ích kỷ, suốt ngày chỉ nghĩ tới mình, tới hạnh phúc hay đau khổ của mình, đều là những người đau khổ nhất. Còn những người có tâm hồn vị tha, chỉ nghĩ đến người khác, đến hạnh phúc và đau khổ của người khác, không còn thì giờ để nghĩ đến mình, thì những người ấy thường luôn luôn hạnh phúc, thoải mái trong tâm hồn, và thành công trong cuộc đời. Người Kitô hữu phải tập cho được thói quen sống vì Chúa, vì tha nhân, và thường xuyên tìm đủ mọi cách để người chung quanh mình (vợ chồng, con cái, người thân, bạn bè) được hạnh phúc. Sống như thế, bảo đảm ta sẽ được hạnh phúc ngay đời này, và chắc chắn cả đời sau nữa.
o0o
Luật nhân quả là do Thiên Chúa dựng nên, là thánh ý của Thiên Chúa. Ta cần biết luật ấy để sống khôn ngoan, biết lợi dụng luật ấy để đem lại hạnh phúc lâu dài cho mình. Đức Giêsu đã chỉ cho ta biết cách để được hạnh phúc lâu dài qua tám mối phúc thật. Đó là biết sống hoàn toàn vì Thiên Chúa và tha nhân. Sống như thế là cách sống khôn ngoan nhất, đem lại hạnh phúc cho ta ngay ở đời này, mà còn bảo đảm cho ta hạnh phúc lâu dài đời sau nữa.
Nguyễn Chính Kết
 
 
 
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
13/02/2026(Xem: 17)
Trong Bài Giảng Trên Núi, Đức Giêsu không hủy bỏ Luật Môsê, nhưng Ngài hoàn chỉnh Luật ấy bằng cách chú trọng vào «tinh thần của Luật», vào những gì xảy ra trong nội tâm của người thi hành Luật. Đức Giêsu mời gọi mọi người sống công chính theo tinh thần mới, công chính từ trong nội tâm, chứ không chỉ từ hành vi thấy được bên ngoài.
02/02/2026(Xem: 424)
Tình hình xã hội hiện nay quả là đáng bi quan: bất công, bạo lực và nhiều thứ tệ nạn đang lan tràn, mạng sống con người bị coi thường, tình dục bị lạm dụng, bảng giá trị Kitô giáo bị đảo lộn, v.v… Thế giới đang bị hư hỏng, trở nên tội lỗi, từ trong gia đình ra đến ngoài xã hội. Đức Giêsu kỳ vọng Giáo Hội trở nên muối và đèn sáng tác động hữu hiệu vào xã hội để xã hội trở nên tốt đẹp.
01/02/2026(Xem: 508)
Đức Giêsu lập nên Giáo Hội những mong Giáo Hội trở thành Nước Thiên Chúa ở trần gian, nơi mà mọi người đều sống hạnh phúc vì yêu thương nhau. Ngài kêu gọi người Kitô hữu phải là men, là muối, là đèn sáng, là những người sống giới răn duy nhất của Ngài là Ngài yêu thương, xả kỷ, phục vụ để tạo nên một xã hội tốt đẹp, làm gương mẫu cho mọi xã hội trên thế giới. Ngài mong Giáo Hội là nhịp cầu nối con người với Thiên Chúa, mong Giáo Hội thành một xã hội gương mẫu để mọi xã hội trên trần gian bắt chước.
28/01/2026(Xem: 637)
Bí quyết để sống hạnh phúc ngay ở đời này là luôn luôn sống phù hợp với thánh ý Thiên Chúa, cùng yêu thương tha nhân chung quanh mình và làm cho họ được hạnh phúc. Đó là góp phần xây dựng Nước Trời ở trần gian, và cũng là tạo hạnh phúc vĩnh cửu cho mình ở đời sau.
21/01/2026(Xem: 880)
Là một nhà cách mạng tôn giáo, nhưng Đức Giêsu lại xuất thân từ Nadarét, thuộc vùng Galilê (miền Bắc) là «miền đất của dân ngoại», chứ Ngài không xuất thân ở vùng Giuđê (miền Nam) là vùng của người đạo Do thái với kinh đô và đền thờ Giêrusalem. Vì thế, Đức Giêsu được gọi là «người Galilê», điều này trái với quan niệm chung của người đạo Do Thái.
FOLLOW US
ĐĂNG KÝ NHẬN TIN MỚI
Thông tin của bạn được giữ kín tuyệt đối và có thể hủy đăng ký bất cứ lúc nào. Nhập địa chỉ email của bạn
THÔNG TIN LIÊN LẠC