Đức Giêsu kỳ vọng gì nơi Giáo Hội?

02/02/20268:51 SA(Xem: 424)
Đức Giêsu kỳ vọng gì nơi Giáo Hội?
Đức Giêsu kỳ vọng gì nơi Giáo Hội?

 aaa
TIN MỪNG: Mt 5:13-16

Muối cho đời và ánh sáng cho trần gian
(Tiếp theo bài giảng trên núi về 8 mối phúc thật, Đức Giêsu nói:) (13) «Chính anh em là muối cho đời. Nhưng muối mà nhạt đi, thì lấy gì muối nó cho mặn lại? Nó đã thành vô dụng, thì chỉ còn việc quăng ra ngoài cho người ta chà đạp thôi.  (14) Chính anh em là ánh sáng cho trần gian. Một thành xây trên núi không tài nào che giấu được. (15) Cũng chẳng có ai thắp đèn rồi lại để dưới cái thùng, nhưng đặt trên đế, và đèn soi chiếu cho mọi người trong nhà. (16) Cũng vậy, ánh sáng của anh em phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy những công việc tốt đẹp anh em làm, mà tôn vinh Cha của anh em, Đấng ngự trên trời».

CHIA SẺ

1. Công dụng của muối và nhiệm vụ của người Kitô hữu

Muối dùng để ướp thức ăn, giữ thức ăn khỏi hư thối, đồng thời thêm vị ngon cho nó. Đức Giêsu đã dùng hình ảnh này để nói lên sứ mạng của người Kitô hữu đối với môi trường mình đang sống. Thật vậy, Đức Giêsu đã lập Giáo Hội – gồm những người Kitô hữu – như một dấu chỉ của Nước Trời, như một cầu nối giữa nhân loại với Thiên Chúa, như một lời chứng cho Ngài trước mọi người. Giáo Hội – hay người Kitô hữu – có vai trò như muối đối với thế giới. Nếu muối dùng để ướp thức ăn, giữ thức ăn khỏi hư và thêm vị ngon cho nó, thì Thiên Chúa muốn dùng người Kitô hữu để giữ cho thế giới, xã hội không bị hư hỏng, mà trở nên tốt đẹp hạnh phúc hơn trước mặt Thiên Chúa.

Thức ăn bị nhiều yếu tố bên trong lẫn bên ngoài làm cho hư thối. Xã hội con người cũng bị những yếu tố nội tại lẫn ngoại tại làm cho hư hỏng, tồi tệ, và trở nên đau khổ. Vì thế, khi Đức Giêsu nói: «Chính anh em là muối cho đời», thì một cách nào đó, Ngài muốn giao cho chúng ta, là người Kitô hữu hay môn đệ Ngài, một nhiệm vụ rất quan trọng đối với xã môi trường mình đang sống. Đó là: phải làm sao giữ cho môi trường ấy không bị hư hỏng và đau khổ bởi gương xấu, bất công, hận thù, bạo lực, mà trở nên tốt đẹp hạnh phúc hơn nhờ gương sáng, sự thực thi công lý, tình thương của chính chúng ta… Người Kitô hữu cần ý thức nhiệm vụ ấy.

 

2.  Trở nên «muối cho đời» bằng cách nào?

Nhưng chúng ta phải thực hiện nhiệm vụ ấy như thế nào? Làm sao chúng ta có thể giữ cho thế giới đừng hư hỏng mà trở nên tốt đẹp hơn? Đức Giêsu đề nghị với chúng ta một phương cách cũng lại bằng một ẩn dụ: «Chính anh em là ánh sáng cho trần gian».

Mọi người ai cũng cần ánh sáng để nhìn thấy, để biết lối đi hầu khỏi té ngã, để biết đường mà làm công nọ việc kia. Về mặt tâm linh, người ta cũng cần có những gương sáng để họ theo đó mà hành xử cho đúng, cho khôn ngoan, cho tốt đẹp trong mọi trường hợp. Nhưng gương sáng đó họ tìm nơi đâu? Khi nói: «Chính anh em là ánh sáng cho trần gian», Đức Giêsu đã giao phó cho chúng ta nhiệm vụ làm gương sáng cho mọi người chung quanh, trong môi trường mình sống. Và khi làm gương sáng như thế, chúng ta đã trở nên «muối cho đời».

 

3. Bạn có làm gương sáng trong môi trường mình sống không?

Tình hình xã hội hiện nay có nhiều điều đáng bi quan: bất công, bạo lực và nhiều thứ tệ nạn xã hội đang lan tràn, mạng sống con người bị coi thường (nhất là của thai nhi), tình dục bị lạm dụng, bảng giá trị Kitô giáo bị đảo lộn (nhiều người, kể cả Kitô hữu, coi trọng tiền bạc, địa vị hơn tình nghĩa…), v.v… Nói chung, thế giới đang bị hư hỏng, trở nên tội lỗi, từ trong gia đình ra đến ngoài xã hội. Vì thế, bất kỳ người Kitô hữu nào cũng cần ý thức lại nhiệm vụ làm «muối cho đời», làm «ánh sáng cho trần gian» mà Đức Giêsu đã giao cho chúng ta. Nhưng thử hỏi, người Kitô hữu – cụ thể là chính bạn, chính tôi – đã ý thức và cố gắng thực hiện nhiệm vụ ấy trong cuộc đời mình chưa?

Thực tế đang trả lời cho chúng ta. Giáo Hội lúc nào cũng nỗ lực truyền giáo, bỏ ra biết bao nhiêu nhân lực và tài lực vào công việc này. Nhưng… hiện nay, dân số Kitô giáo trên thế giới tuy có tăng theo đà tăng của dân số thế giới, nhưng tỷ lệ người Kitô hữu (cả Công giáo và Tin Lành ) đang càng ngày càng giảm khoảng từ 50 năm nay, nhất là tại Âu châu. Tại châu Âu, nơi trước đây số Kitô hữu đã lên tới 70%, thì nay tỷ lệ người Kitô hữu thực hành đạo thật sự (pratiquants, church-goers) chỉ còn khoảng 5-10% (tôi đã gặp nhiều người Âu châu cho biết là có quốc gia chỉ được từ 2 đến 3%). Tại châu Á, tỷ lệ người Công giáo hiện nay – theo thống kê của Tòa Thánh năm 2025 – chỉ được 3,3%. Số Kitô hữu gia tăng chủ yếu là do trẻ con vừa lọt lòng mẹ thì đã thành Kitô hữu do được rửa tội sớm, và số người lớn trở lại Kitô giáo chủ yếu là do việc kết hôn với người Kitô hữu đòi buộc. Số người giác ngộ Kitô giáo để tự nguyện theo thì rất ít. Thực trạng đó quả không đáng tự hào chút nào!

Điều ấy đòi hỏi chúng ta phải suy nghĩ để tìm ra nguyên nhân: chúng ta đã sống đạo thế nào? Tôi nghĩ: mọi nỗ lực truyền giáo đều là vô ích, nếu chính người Kitô hữu chỉ giữ đạo một cách hình thức, không sống đạo thật sự, nghĩa là chỉ biết đến nhà thờ dự lễ, năng lãnh nhận các bí tích, chứ thật sự không áp dụng tinh thần Đức Kitô vào trong đời sống của mình.

 

4. Phải chăng cách sống của ta là một phản chứng?

Ta hãy nghe Mahatma Gandhi – được dân Ấn Độ xem là một vị thánh – nói về cách sống đạo của những Kitô hữu trong xã hội của ông. Ông đã lên tiếng, có vẻ như thách thức người Kitô hữu, cụ thể là những người Anh đô hộ họ: Nếu những người Kitô hữu ở Ấn độ thật sự sống đúng tinh thần của Đức Kitô, thì họ chẳng cần phải mất công rao giảng, toàn Ấn độ sẽ trở thành Kitô hữu hết. Trước mắt ông, người Kitô hữu - cụ thể là người Anh lúc ấy đang đô hộ dân tộc ông - cũng tham lam, bất công và tàn bạo không kém gì những kẻ xâm lăng khác. Ông rất say mê Đức Kitô, nhưng ông không thể trở nên Kitô hữu, vì những người đem Kitô giáo đến với dân tộc ông – người Anh – lại chính là những người đang nô lệ hóa dân tộc ông, đàn áp dân tộc ông một cách dã man. Ông không thể tin rằng dân Ấn Độ hiền lành của ông cứ phải gia nhập cái đạo của những người đang quàng ách nô lệ lên dân tộc ông thì mới được cứu rỗi. Nếu những kẻ nô lệ hóa dân tộc ông một cách bỉ ổi mà được Thượng Đế thưởng công chỉ vì họ là người Kitô hữu, đang khi dân tộc hiền hòa của ông lại bị phạt chỉ vì không phải là Kitô hữu, thì một vị Thượng Đế như thế không thể chấp nhận được!

Cũng vậy, biết bao người như Gandhi rất mộ mến Đức Giêsu, nhưng cứ nhìn thấy cách sống của những người Kitô hữu chung quanh họ, là họ cảm thấy chẳng cần phải vào Kitô giáo làm gì. Vì người Kitô hữu nói chung cũng chẳng hơn gì họ: cũng ích kỷ, cũng ăn gian nói dối, cũng gây bất công, cũng lặng im trước bất công, cũng sống chẳng có tình nghĩa bao nhiêu… Làm sao họ có thể tin được những người chẳng tốt hơn họ, đôi khi kém họ lại được Thiên Chúa ân thưởng chỉ vì là Kitô hữu, còn họ cũng sống như vậy thậm chí tốt hơn thì lại bị phạt. Chẳng lẽ chúng ta lại giới thiệu với họ một Thiên Chúa bất công và vô lý như vậy qua cách sống của chúng ta?

 

5. Truyền giáo bằng chính đời sống phù hợp với Tin Mừng

Nếu đời sống của ta ngược lại với Tin Mừng, làm sao ta có thể làm «muối cho đời» để đời khỏi hư hỏng được? làm sao ta có thể làm cho đời tốt đẹp lên được? Muối như thế là muối đã lạt. Muối có giá trị hay không là ở vị mặn của nó. Nếu muối lạt thì còn giá trị gì, còn làm được việc gì? «Nó đã thành vô dụng, thì chỉ còn việc quăng ra ngoài cho người ta chà đạp thôi»! (Mt 5:13).

Người ta – nhất là Đức Giêsu – có thể kết luận gì về chất «muối» tâm linh của ta? Hãy tự xét mình xem chất «muối» của ta có còn vị «mặn» không? có còn tác dụng «ướp» nữa không? Xét một cách cụ thể hơn: sự hiện diện của tôi trong gia đình, trong tổ dân phố, trong xứ đạo, trong xã hội, trong nơi ta làm việc… có làm «ánh sáng» dẫn đường cho môi trường ấy tốt hơn không? Những vùng đông người Kitô hữu có trật tự xã hội và mức phát triển về mọi mặt – nhất là mặt đạo đức – cao hơn những vùng khác không? Sự hiện diện của một ngôi giáo đường có đích thực là một sự chúc lành cho vùng chung quanh không? nghĩa là có làm cho dân chúng vùng chung quanh trở nên tốt hơn, trật tự hơn, hạnh phúc hơn không?

Theo quan niệm của Gandhi, để toàn dân Ấn Độ trở thành Kitô hữu, không cần phải đổ công đổ của ra mà truyền giáo cho bằng chỉ cần người Kitô hữu sống đích thực tinh thần của Đức Giêsu là đủ. Sống như thế chính là trở nên «ánh sáng cho trần gian». Thật mỉa mai khi muối đã lạt lại còn muốn ướp cái này cái nọ, ích lợi gì? Và mỉa mai hơn nếu đạo mình mình không thèm sống lại còn muốn đem đạo ấy truyền cho người khác, để làm gì?! Vừa truyền giáo, vừa sống phản lại Tin Mừng thì chẳng khác gì «trống đánh xuôi, kèn thổi ngược». Thật mỉa mai khi chính mình tối om lại muốn làm ánh sáng dẫn đường cho người khác! Thật ngược đời khi chính mình đói meo lại đi lo chuyện làm no ấm thiên hạ!

 o0o

Qua Đức Giêsu, Thiên Chúa mời gọi người Kitô hữu chúng ta và trao cho chúng ta nhiệm vụ: hãy trở nên «muối cho đời» và «ánh sáng cho trần gian». Để làm được chuyện ấy, chúng ta phải là muối thật mặn, phải là đèn thật sáng, và chúng ta phải quyết tâm trở nên như thế. Điều quan trọng là chính chúng ta phải quyết tâm trước, rồi Thiên Chúa sẽ ban ơn trợ giúp sau. Chúng ta không quyết tâm thì Thiên Chúa có đổ tràn thần lực xuống cho chúng ta cũng vô ích. Thiên Chúa đành phải bó tay nếu chính chúng ta từ chối lời mời gọi của Ngài và không quyết tâm thực hiện, vì Ngài luôn luôn tôn trọng tự do của chúng ta. Thiên Chúa mời gọi chúng ta hãy trở nên «muối cho đời» và «ánh sáng cho trần gian» và Ngài rất mong chúng ta đáp trả bằng một quyết tâm thật sự.

Nguyễn Chính Kết

 
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
13/02/2026(Xem: 17)
Trong Bài Giảng Trên Núi, Đức Giêsu không hủy bỏ Luật Môsê, nhưng Ngài hoàn chỉnh Luật ấy bằng cách chú trọng vào «tinh thần của Luật», vào những gì xảy ra trong nội tâm của người thi hành Luật. Đức Giêsu mời gọi mọi người sống công chính theo tinh thần mới, công chính từ trong nội tâm, chứ không chỉ từ hành vi thấy được bên ngoài.
01/02/2026(Xem: 508)
Đức Giêsu lập nên Giáo Hội những mong Giáo Hội trở thành Nước Thiên Chúa ở trần gian, nơi mà mọi người đều sống hạnh phúc vì yêu thương nhau. Ngài kêu gọi người Kitô hữu phải là men, là muối, là đèn sáng, là những người sống giới răn duy nhất của Ngài là Ngài yêu thương, xả kỷ, phục vụ để tạo nên một xã hội tốt đẹp, làm gương mẫu cho mọi xã hội trên thế giới. Ngài mong Giáo Hội là nhịp cầu nối con người với Thiên Chúa, mong Giáo Hội thành một xã hội gương mẫu để mọi xã hội trên trần gian bắt chước.
28/01/2026(Xem: 637)
Bí quyết để sống hạnh phúc ngay ở đời này là luôn luôn sống phù hợp với thánh ý Thiên Chúa, cùng yêu thương tha nhân chung quanh mình và làm cho họ được hạnh phúc. Đó là góp phần xây dựng Nước Trời ở trần gian, và cũng là tạo hạnh phúc vĩnh cửu cho mình ở đời sau.
28/01/2026(Xem: 682)
Cả tám mối phúc đều là hệ luận của một mối phúc căn bản này, đó là phúc cho người biết sống vị tha, nghĩa là biết thật sự sống vì Chúa, vì tha nhân, sẵn sàng chịu thiệt hại, mất mát, đau khổ vì sống theo ý Chúa, vì lợi ích hay hạnh phúc của tha nhân.
21/01/2026(Xem: 880)
Là một nhà cách mạng tôn giáo, nhưng Đức Giêsu lại xuất thân từ Nadarét, thuộc vùng Galilê (miền Bắc) là «miền đất của dân ngoại», chứ Ngài không xuất thân ở vùng Giuđê (miền Nam) là vùng của người đạo Do thái với kinh đô và đền thờ Giêrusalem. Vì thế, Đức Giêsu được gọi là «người Galilê», điều này trái với quan niệm chung của người đạo Do Thái.
FOLLOW US
ĐĂNG KÝ NHẬN TIN MỚI
Thông tin của bạn được giữ kín tuyệt đối và có thể hủy đăng ký bất cứ lúc nào. Nhập địa chỉ email của bạn
THÔNG TIN LIÊN LẠC