Tại sao để cứu chuộc nhân loại,
Đức Giêsu phải chịu chết
thảm thương như thế?

TIN MỪNG: Ga 3:16-18
(Chúa nhật Lễ Chúa Ba Ngôi)
Thiên Chúa yêu thương thế gian
(Trong cuộc nói chuyện với ông Nicôđêmô, một thủ lãnh của người Dothái, đã đến gặp Đức Giêsu ban đêm, Đức Giêsu nói với ông:) (16) «Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời. (17) Quả vậy, Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người, mà được cứu độ. (18) Ai tin vào Con của Người, thì không bị lên án; nhưng kẻ không tin, thì bị lên án rồi, vì đã không tin vào danh của Con Một Thiên Chúa.»
CHIA SẺ
Khi nói chuyện với ông Nicôđêmô, Đức Giêsu đã tỏ lộ: «Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một (…) Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian (…) để thế gian, nhờ Con của Người, mà được cứu độ» (Ga 13:16.17). Biết bao người thắc mắc: để cứu chuộc con người, tại sao Thiên Chúa lại phải hành động một cách nhiêu khê là phải sai Con Một mình xuống thế, chịu đau khổ và chết nhục nhã trên thập giá? Ngài là Thiên Chúa quyền năng vô biên, nên trên nguyên tắc, Ngài chỉ cần phán một lời, thì tội lỗi con người dù to như núi, lớn như biển, cũng được tha hết, tại sao Ngài không làm như thế? Muốn hiểu được điều ấy ta phải hiểu được tội lỗi của con người lớn lao thế nào, đồng thời hiểu được sự xung đột kỳ diệu giữa hai thuộc tính công bằng và yêu thương của Thiên Chúa trước tình trạng tội lỗi ấy của con người.
1. Tội lỗi con người to lớn thế nào?
Muốn hiểu được tội lỗi con người, ta thử làm một so sánh. Khi nói một câu xúc phạm đến người bạn ngang hàng với ta, ta chỉ bị người bạn của ta buồn giận, và ta thấy tầm mức của lầm lỗi ấy không đến nỗi quan trọng lắm. Nếu ta xúc phạm đến một người dưới quyền ta, lỗi ấy lại càng nhỏ hơn. Nhưng nếu cũng câu xúc phạm ấy ta nói với cha mẹ ta, thì tội ta nghiêm trọng hơn rất nhiều, ta bị buộc tội bất kính hay bất hiếu với cha mẹ. Nếu cũng câu xúc phạm ấy ta nói với một ông vua, thì ta mắc tội khi quân là một trọng tội, nếu không bị bay đầu thì cũng phải tù tội. Như vậy, phẩm giá người bị xúc phạm càng cao, thì tội xúc phạm ấy càng lớn, cho dù hành động xúc phạm ấy hoàn toàn giống in hệt nhau. Phẩm giá của Thiên Chúa, là Chúa tể vũ trụ, cao hơn ông vua hàng tỷ lần (tạm diễn tả như vậy cho dễ hiểu), nên tội xúc phạm đến Ngài cũng lớn hơn lên hàng tỷ lần. Thế mà tổ tông loài người đã xúc phạm đến chính Ngài.
Một minh họa khác tuy què quặt nhưng giúp ta hiểu được phần nào sự di truyền của tội tổ tông. Một ông phù thủy quyền năng kia có một con chó mà ông hết mực yêu thương. Một hôm, khi tình yêu dâng lên dào dạt, ông đã tận dụng quyền năng của mình biến nó thành một con người như ông, đồng thời nhận nó làm con. Thế là từ đấy con chó – giờ đã thành người – có thể suy nghĩ, nói năng như con người, tuổi thọ cũng dài như con người, có khả năng làm được tất cả những gì mà một con người có thể làm được. Thật là một thay đổi và thăng tiến vĩ đại! Ông phù thủy còn dự tính sẽ truyền đầy đủ những bí quyết phù thủy cho nó, để nó cũng có tài năng biến hóa như ông, và khi ông sang bên kia thế giới, toàn bộ sản nghiệp vĩ đại của ông sẽ để lại cho nó. Và con cháu do nó sinh ra cũng đều là người và cũng sẽ được kế thừa nghề phù thủy và sản nghiệp của ông.
Nhưng một hôm vì say rượu nó đã nói những lời xúc phạm đến ông, thậm chí còn đả thương ông. Vì thế, trong cơn giận dữ, ông đã biến nó trở lại thành chó. Thế là chó lại hoàn chó! Nó không còn nói được tiếng người, không còn làm được những việc mà chỉ con người mới làm được! Không còn sống đến 7, 8 chục tuổi như con người. Không còn được ngồi bàn ăn uống như người, mà phải ăn uống theo kiểu chó, v.v… Khả năng trở nên một thầy phù thủy hoàn toàn mất. Và tệ hại nhất là con cháu của nó, từ thế hệ này sang thế hệ khác, cũng chỉ là chó và mãi mãi là chó!
Cũng vậy, con người đã được Thiên Chúa dựng nên làm người ở bậc tự nhiên như bao thú vật khác, có điều cao hơn thú vật một chút. Nhưng không chỉ có thế, vì yêu thương con người một cách đặc biệt, Thiên Chúa đã nâng con người lên bậc siêu nhiên để trở thành con cái Ngài, có đầy đủ những khả năng tương xứng với phẩm giá ấy. Các nhà thần học gọi bản chất được nâng cao thành con cái Thiên Chúa với quyền thừa hưởng hạnh phúc vĩnh cửu là ơn siêu nhiên, và gọi khả năng được nâng cao như không phải chết, không phải đau khổ, được hạnh phúc hơn, hướng thiện hơn, khôn ngoan hơn, v.v… là những ơn ngoại nhiên. Nhưng tổ tông con người đã phạm tội làm mất tất cả những ơn đặc biệt ấy – cả ơn siêu nhiên lẫn ơn ngoại nhiên – để trở lại thành con người hoàn toàn ở bậc tự nhiên. Các thế hệ sau của con người cũng không hơn gì tổ tông mình. Và vì tội lỗi ấy, con người phải trở lại tình trạng ban đầu của mình, từ đó phát sinh ra đau khổ, và cũng sẽ chết như bao sinh vật khác.
2. Sự xung đột giữa bản tính vừa công bằng
vừa yêu thương vô biên của Thiên Chúa đối với con người
Để hiểu được tình yêu vô hạn của Thiên Chúa đối với con người, và để giải đáp phần nào thắc mắc được nêu lên ở phần đầu bài chia sẻ này: «để cứu chuộc con người, tại sao Thiên Chúa lại phải hành động một cách nhiêu khê là phải sai Con Một mình xuống thế, chịu đau khổ và chết nhục nhã trên thập giá?» tôi xin trình bày khái lược và tổng hợp một trong những cách lý giải vấn đề trên. Đó là cách lý giải của ba nhà thần học Tin Lành: Martin Luther (vị sáng lập đạo Tin Lành, người Đức), Jürgen Moltmann (người Đức, rất nổi tiếng với «Theology of Hope» hay «Thần học Hy vọng») và Kazoh Kitamori (giáo sư chủng viện, người Nhật) qua thần học «Thiên Chúa cũng đau khổ» (The suffering of God) để chúng ta cùng suy niệm (*).
(*) Xem: những tác phẩm của 3 nhà thần học trên: Heidelberg Disputation (1518): nền tảng “Thần học Thập giá” của Martin Luther (https://thebookofconcord.org/sources-and-context/heidelberg-disputation/); Luther's Works: Lectures on Galatians (1531): nhấn mạnh “Thiên Chúa chịu đau khổ trong Đức Kitô”. The Bondage of the Will (1525) – trình bày chiều kích “Thiên Chúa ẩn mình”. Jürgen Moltmann obituary: Theologian who found God in a PoW camp (https://www.thetimes.com/uk/obituaries/article/jurgen-moltmann-obituary-theologian-who-found-god-in-a-pow-camp-tz0zl7jtm)
Thiên Chúa của chúng ta là một Thiên Chúa vừa công bằng vừa yêu thương. Vì là Thiên Chúa vô hạn và tuyệt đối, nên sự công bằng và yêu thương của Ngài cũng vô hạn. Công bằng và yêu thương là bản chất của Ngài, Ngài không bao giờ hành động ngược lại bản chất của Ngài, vì như vậy là tự phản lại chính mình. Chính vì bản chất hai mặt ấy mà Thiên Chúa trở nên khó xử. Một đằng sự công bằng đòi buộc Ngài phải phán xử tội lỗi của con người một cách hợp lý. Nếu thế thì con người phải chịu hình phạt tương xứng với tội lỗi mình. Con người hữu hạn nên tội của con người là hữu hạn. Nhưng Thiên Chúa là vô hạn, nên tội xúc phạm đến Thiên Chúa lại là vô hạn. Tội của con người đối với Thiên Chúa vì thế có hai mặt: vừa hữu hạn lại vừa vô hạn. Tội hữu hạn thì hình phạt phải hữu hạn, tội vô hạn thì hình phạt cũng phải vô hạn. Hình phạt của con người vì thế cũng có hai mặt: vừa hữu hạn vừa vô hạn. Dù thế nào thì con người cũng bị phạt rất nặng, nên phải thiệt hại vô cùng và đau khổ rất nhiều.Tuy nhiên, Thiên Chúa không phải chỉ là một Thiên Chúa công bằng, mà còn là một Thiên Chúa đầy yêu thương. Tình thương vô hạn của Ngài không thể chấp nhận để cho con người phải vĩnh viễn đau khổ vì chính sự công bằng của Ngài. Tình thương ấy đòi hỏi Ngài phải cứu con người cho bằng được. Nhưng thật vô cùng khó vì phải cứu thế nào để vẫn thỏa mãn được sự công bằng của Ngài. Lúc này Thiên Chúa duy nhất dường như bị xẻ thành hai: một Thiên Chúa công bằng đòi hỏi phải xử phạt con người một cách xứng đáng, và một Thiên Chúa yêu thương đòi hỏi phải cứu con người với bất cứ giá nào. Trước sự đòi hỏi gắt gao của bản tính vừa công bằng vừa yêu thương ấy, trong nội tâm Thiên Chúa có sự xung đột vì con người. Đó chính là nỗi đau khổ của Ngài, tạm dùng từ ngữ như thế. Thiên Chúa vô cùng hạnh phúc bây giờ trở nên đau khổ vì con người. Vì là Thiên Chúa, nên đau khổ ấy cũng là vô cùng.
Sự đau khổ vô cùng ấy của Thiên Chúa được biểu lộ qua sự đau khổ cùng tột và cái chết thê thảm của Đức Giêsu, Con Thiên Chúa.
3. Giải pháp cứu con người: Đức Giêsu đau khổ và chết
Vẫn theo quan điểm của ba nhà thần học trên, muốn cứu con người, thì trong số con người phải có một người có địa vị xứng đáng có khả năng đại diện cho con người để đền tội thay cho cả loài người. Vì tội ấy xúc phạm đến Thiên Chúa rất cao cả, nên để đền tội cho cân xứng theo sự đòi hỏi của lẽ công bằng, người đại diện cho loài người cũng phải cao cả ở một tầm vóc nào đó xứng với sự cao cả của Thiên Chúa. Nếu không thì người ấy chỉ có thể đền tội tối đa cho một mình mình thôi, không đền thay cho cả nhân loại được. Thật là nan giải! Làm sao trong hàng ngũ con người tội lỗi đang bị thất sủng trước Thiên Chúa có thể có được một con người như thế? Con người chắc chắn không thể làm nổi, nhưng Thiên Chúa quyền năng vô biên chắc chắn có thể. Do tình thương vô biên đối với con người thúc đẩy, đồng thời nhờ sự khôn ngoan và quyền năng vô hạn của mình, Thiên Chúa đã thực hiện một sáng kiến tuyệt vời là cho Ngôi Hai nhập thể làm người để làm công việc đền tội ấy.
Khi nhập thể làm người, Ngôi Hai Thiên Chúa trở thành Đức Giêsu, một con người thật sự. Nhưng con người này lại hết sức cao cả, cao cả ngang hàng với Thiên Chúa, vì đó chính là Ngôi Hai, Con Thiên Chúa. Vì thế, Ngài rất xứng đáng để đền tội thay cho cả nhân loại trước mặt Thiên Chúa. Và để đền một cách thật cân xứng với cái tội vô cùng to lớn của nhân loại – cả tội tổ tông được di truyền và vô số tội riêng của toàn thể loài người – Đức Giêsu đã tự nguyện chịu biết bao đau khổ ở trần gian, và cuối cùng chết vô cùng nhục nhã và thê thảm trên thập giá. Công trình nghiên cứu đầy tính khoa học về tấm khăn liệm xác Đức Giêsu của bác sĩ giải phẫu học Pierre Barbet cho thấy sự đau khổ mà Đức Giêsu phải chịu là cùng tột và khủng khiếp như thế nào. Nhưng chính qua sự đau khổ và sự chết ấy, cả sự công bằng lẫn tình thương vô biên của Thiên Chúa đối với con người được hoàn toàn thoả mãn. Thật là một giải quyết tài tình, qua đấy ta thấy được sự công bằng và tình yêu thương của Thiên Chúa, đồng thời thấy được tội lỗi của ta trước con mắt của Thiên Chúa lớn lao như thế nào.
o0o
Qua cách tạm giải thích của 3 nhà thần học nói trên, ta có thể hiểu một cách sâu sắc câu nói của Đức Giêsu: «Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một của Ngài cho họ» (Ga 3:16). Thì ra chính bản tính vừa công bằng nhưng cũng vừa yêu thương vô biên của Thiên Chúa đã không cho phép Ngài làm một cái gì đơn giản để cứu chuộc nhân loại hơn là để cho Đức Giêsu, Con Một vô cùng dấu yêu của Ngài, phải nhập thể làm người và chịu chết một cách thảm thương trên thập giá. Đó chỉ là một cách tạm giải thích, nhưng qua đó ta mới hiểu được tình của Thiên Chúa yêu thương nhân loại, trong đó có ta như thế nào! Vậy ta hãy quảng đại và hết lòng đáp lại tình yêu thương của Ngài và hãy sống xứng đáng với tình yêu ấy!
Nguyễn Chính Kết
- Từ khóa :
- tại sao?
- ,
- Thiên Chúa yêu con người
Gửi ý kiến của bạn




