Giám-mục Lê Hữu Từ:
bước chân thừa-sai làm mềm sỏi đá
Đẹp thay bước chân người đi loan báo Tin Mừng (I-sai-a 52, 7-10)
Đức cha Lê Hữu Từ (1896–1967)
là một trong những khuôn mặt mục tử nổi bật nhất
của Giáo hội Công giáo Việt Nam thế kỷ XX.
Giữa bối cảnh chiến tranh, hỗn loạn và áp lực chính trị nặng nề
dưới thời chính quyền Hồ Chí Minh,
ngài vẫn kiên định sống ơn gọi mục tử:
bảo vệ đức tin, bảo vệ phẩm giá con người,
và bảo vệ sự sống của đoàn chiên.
Ngài đã trở thành biểu tượng của một mục tử can đảm,
khôn ngoan, bất khuất, dám đứng lên trước bạo lực và bất công
để gìn giữ tự do tôn giáo và sự an toàn của giáo dân.
Phạm Minh-Tâm
Vào sáng ngày 27 tháng 4 năm 1967, trên các ngả đường Thủ-đô Sài-gòn dẫn về Vương-cung Thánh-đường, khung-cảnh giao-thông trở nên đông-đảo khác thường vì có thêm số lượng đoàn người và xe-pháo từ nhiều nơi đổ về tham-dự Thánh-lễ an-táng Giám-mục Ta-đê-ô Lê Hữu Từ.
Giám-mục Ta-đê-ô Lê Hữu Từ là vị giám-mục thứ năm trên danh-sách những vị chủ-chăn bản-xứ đầu tiên của Công-giáo Việt-Nam theo thứ-tự:
- Giám-mục Gio-an Bao-ti-xi-ta Nguyễn Bá Tòng, ngày 11-6 1933.
- Giám-mục Đa-minh Ma-ri-a Hồ Ngọc Cẩn, ngày 29-6-1935.
- Giám-mục Phê-rô Mac-ti-nô Ngô-Đình Thục, ngày 04-5-1938
- Giám-mục Gio-an Ma-ri-a Phan Đình Phùng, ngày 03-12-1940.
- Giám-mục Ta-đê-ô Lê Hữu Từ, ngày 28-10-1945.
Đây là vị giám-mục thời-danh nhất trong cả hai lãnh-vực truyền-giáo của Giáo-hội Công-giáo Việt-Nam nói riêng và đối với lịch-sử đấu-tranh của dân-tộc, đã cùng chống cả hai chủ-nghĩa thực-dân lẫn cộng-sản, bằng tinh-thần của một sĩ-phu Việt-Nam đúng nghĩa ưu-thời mẫn-thế, vào tiền bán thế-thế-kỷ 20.
Thành vậy, trong đoàn người đông đầy tìm về tham-dự nghi-thức tiễn-đưa cố giám-mục Ta-đê-ô Lê Hữu Từ, đã không chỉ là giáo-dân, là con chiên bổn-đạo của khối công-dân Công-giáo, mà còn là những đồng-bào của ông - không nhất-thiết thuộc tôn-giáo nào - đến hiệp-thông với sự mất-mát của Giáo-hội Việt-Nam là một lẽ, mà còn là kính viếng và hồi-tưởng lại ký-ức gian-nan của từng người đã một thời nhờ ảnh-hưởng của ông mà qua được hoạn-nạn giữa những chông gai của đất nước. Tất cả vẫn còn đậm nét trong tâm-khảm mỗi người về phong-cách một môn-đệ tín-trung với ơn gọi thiêng-liêng đời tận-hiến, một chủ chăn luôn nặng mang hai chữ “quốc-gia” mà thuỷ-chung phục-vụ Thiên Chúa và Tổ-quốc - Deus et Patria - và một sĩ-phu Việt-Nam ái-quốc, cương-trực.
Thật là rất hiếm dịp được chứng-kiến một đám tang nào có số-lượng người đi tiễn-đưa đông như thế khi không phải là công-hầu khanh-tướng của thế-gian.
Giữa những bộ tang-phục của thân-nhân theo huyết-tộc hay trang-trọng theo liên-hệ linh-tông, những vành khăn trắng dành kính một bậc thầy, một bậc trưởng-thượng chân-tu khả-kính, còn là những chân-tình tha-thiết tiếc thương một nhà lãnh-đạo tinh-thần đúng mực tâm-linh và trên hết, một người anh em Việt-Nam chân-chính đúng nghĩa cùng chung nguồn từ bọc trăm trứng Rồng Tiên.
Linh-cữu của cố giám mục Lê Hữu Từ được quàn hai ngày tại nhà hưu-dưỡng Phát-diệm ở Xóm Mới, Gò-vấp. Sau đó được chuyển đến Vương-cung Thánh-đường Sài-gòn. Thánh-lễ an-táng được cử-hành ngày 27 tháng 4 năm 1967, do Tổng-giám-mục Sài-gòn Phao-lô Nguyễn Văn Bình chủ-tế, Giám-mục Phạm Ngọc Chi đồng-tế cùng phần-vụ đọc điếu-văn truy-điệu và số đông các linh-mục. Phía Chính-quyền, có Trung-tướng Nguyễn Văn Thiệu - Chủ-tịch Ủy-ban Lãnh-đạo Quốc-gia, Thiếu-tướng Nguyễn Cao Kỳ - Chủ-tịch Ủy-ban Hành-pháp Trung-ương, các thành-phần chức-sắc các tôn-giáo và các đoàn-thể…
Sau thánh lễ, linh-cữu giám-mục Lê Hữu Từ được rước về an-táng tại An-dưỡng-viện Phát-diệm ở Xóm Mới, Gò-vấp, vùi sâu chôn chặt một thân-phận thụ-tạo của kiếp người. Song những hành-sự trên lộ-trình 71 năm tại-thế của con người phong-phú và đa-dạng này lại không vĩnh-viễn khép lại, mà bắt đầu mở ra như một tổng-hợp về một mục-tử tín-trung với ơn gọi thiêng-liêng của đời tận-hiến, một sĩ-phu nhà đạo Việt-Nam thuỷ-chung với Thiên Chúa và Tổ-quốc và một nhà lãnh-đạo tinh-thần cương-trực có ảnh hưởng rất lớn trong cuộc chiến-tranh giữa các ý-thức-hệ Quốc-gia, phong-kiến, thực-dân, cộng-sản và tư-bản tại Việt-Nam giai-đoạn 1945-1954.
I. Một môn-đệ tín-trung với ơn gọi thiêng-liêng
● Thân-thế: Giám-mục Lê Hữu Từ sinh ngày 28-10-1896 (cũng có tài-liệu ghi là 27-10-1897) tại Di-loan, huyện Vĩnh-linh, tỉnh Quảng-trị, trùng vào ngày lễ kính thánh Tông-đồ Ta-đê-ô (Thaddeus) nên đã được chọn để làm thánh bổn-mạng gắn liền vào một thân-phận thụ-tạo mới ra đời mang tên Lê Hữu Từ. Thân-phụ là ông Lê Hữu Ý và thân-mẫu là bà Trần Thị Dưỡng. Hai ông bà sinh-hạ được mười người con gồm bảy trai và ba gái, theo thứ-tự như sau:
1. Phê-rô Lê Hữu Nguyện.
2. Đô-mi-ni-cô Lê Hữu Luyến, linh-mục.
3. Ta-đê-ô Lê Hữu Từ, linh-mục và giám-mục Phát-diệm.
4. Ma-da-lê-na Lê Thị Dũ, nữ-tu Dòng Phú-xuân Huế.
5. Phê-rô Lê Hữu Niệm.
6. Giu-se Lê Hữu Huệ, linh-mục.
7. Giu-se Lê Hữu Tuệ
8. An-na Lê Thị Ẩn, nữ-tu Dòng Phú-xuân, Huế.
9. Phê-rô Lê Hữu Hiến.
10. Y-sa-ve Lê Thị Ứng, nữ-tu dòng Phú-xuân, Huế.
● Hành-trình sứ-vụ
- Ngày 01-9-1911, khởi đầu con đường tu học tại Tiểu-chủng-viện An-ninh, Cửa Tùng, Quảng-trị.
- Ngày 01-9-1921 nhập Đại-chủng-viện Phú-xuân, Huế.
- Ngày 18-12-1926 nhận chức Phó-tế tại nhà thờ Phủ Cam, Huế. Nhưng sau khi nhận chức, phó-tế Lê Hữu Từ lại chuyển hướng theo đời tu khổ-hạnh, chọn gia-nhập dòng Xi-tô Phước-sơn tại Quảng-trị.
- Ngày 15-9-1928, nhận áo thỉnh-sinh của dòng Xi-tô Phước-sơn.
- Ngày 08-12-1928, chính-thức mặc áo nhà Tập của đan-viện Xi-tô.
- Ngày 22-12-1928, đang khi là tập-sinh tại Xi-tô Phước-sơn lại được giáo-phận Huế gọi về cho thụ-phong linh-mục.
- Ngày 25-12-1929, chính-thức tuyên-khấn, trở thành tu-sĩ dòng Xi-tô với tên thánh Anselmo, một giám-mục thuộc dòng Biển-đức thời Trung-cổ.
Từ đây, đan-sĩ Anselmô đã lên đường tìm gặp Thiên Chúa bằng nếp sống khắc-khổ qua lao-động và cầu nguyện trong thinh-lặng, Ora et Labora.
- Năm 1931, phụ-trách Nhà Tập và hướng-dẫn các đan-sĩ trẻ
- Ngày 25-7-1933, được chọn làm Đan-viện-phó, khi vị sáng-lập dòng khổ tu Phước-sơn, Henri Denis Benoit, qua đời và Phước-sơn được sáp-nhập vào Dòng Mẹ Xi-tô.
- Ngày 20-8-1933, khấn trọn đời.
- Ngày 12-7-1936, đuợc Hội dòng Phước-sơn bầu chọn làm Bề trên tiên-khởi cho đan-viện mới lập tại Châu-sơn ở Miền Bắc, thuộc giáo-phận Phát-diệm.
Linh-mục Lê Hữu Từ, khi đang là phó Bề trên ở Phước-sơn, đã tình-nguyện cùng mười hai đan-sĩ đi Nho-quan lập nhà mới trên một vùng chỉ toàn là bụi đất hoang-tàn với chi-tiết được ghi lại rằng hành-trang của đoàn chỉ vỏn-vẹn một cây Thánh-giá gỗ, một cỗ tràng-hạt và 12 đồng bạc Việt-Nam thời đó; và trên hết là một niềm tin mạnh-mẽ nơi từng người muốn dùng chính cuộc đời mình để diễn-tả mầu-nhiệm về Đức Ki-tô.
- Ngày 05-09-1936, cùng mười hai đan-sĩ Phước-sơn đặt chân đến vùng đất mới Châu-sơn.
- Ngày 08-9-1936, chính-thức làm Bề trên Dòng Xi-tô Châu-sơn. Khu đất để gầy-dựng dòng khổ tu Châu-sơn vào thời-điểm này vốn là khu đồn-điền của một người Pháp, đã bỏ hoang lâu ngày. Vì đã sẵn tâm-nguyện mong muốn có một đan-viện trong phạm-vi giáo-phận Phát-diệm nên giám-mục Nguyễn Bá Tòng đã mua lại khu đồn-điền hoang-phế này cùng luôn cả vùng đất chung quanh, rồi liên-lạc xin Bề-trên Dòng Xi-tô Phước-sơn cho lập thêm một chi-nhánh của Dòng tại địa-phận Phát-diệm.
Và một đan-viện mới mang tên Châu-sơn được hình-thành.
Những năm đầu ở Châu-sơn đúng là gập-ghềnh sỏi đá, không xa với cách nói “khai sơn phá thạch” của người xưa bao nhiêu. Mười ba nhà ẩn-tu như lạc vào hoang-địa đầy lam-sơn chướng-khí, làm bạn với muỗi rừng và chống-chọi với căn bệnh sốt rét ngã nước trong khu đồn-điền bỏ hoang, chung quanh là rừng cây núi đá vây bọc, thích-hợp cho rắn rết hùm beo hơn là con người. Để vượt qua khó-khăn ban đầu này, mười ba anh em đan-sĩ miệt-mài cuộc đời tận-hiến với cầu-nguyện là sức sống và nỗ-lực lao-động là phương-châm, cho dù cuộc sống vật-chất luôn trong tình-trạng thiếu hụt, có đủ cả đói-khổ và bệnh-tật. Đan-viện-trưởng Lê Hữu Từ, hơn ai hết, hăng-say đẽo đá, cuốc đất cào sỏi, phá rừng làm nương rẫy, không màng mọi sự cực-nhọc, từng ngày cặm-cụi kiên-nhẫn lao-động. Chính vì vậy mà không ai nản lòng vì Bề-trên của họ luôn là một tấm gương, một chứng-nhân của đời sống khổ-tu tận-hiến.
Lao-động ở Châu-sơn không chỉ là khai-hoang để gieo hạt giống lúa mạ, cây trái và rau quả cho cuộc sinh-hoạt tại-thế, mà giá-trị chính là gieo niềm tin yêu và hy-vọng cho tương-lai của cộng-đoàn, của Giáo-phận và Giáo-hội. Là thắng vượt gian-truân, chấp-nhận thử-thách như cách-thế tôi-luyện thêm ý-chí bền-đỗ của những tâm-hồn đã chọn nếp sống khổ-hạnh này.
Cho dù khách-quan, sự chọn lựa nào cũng có những cái giá phải trả, ngay cả khi theo tâm-ý của ơn gọi đời tu là dâng-hiến và vâng-phục thì thực-tế vẫn là đầy hy-sinh và chịu đựng. Thành vậy, trong hồi-ức của Đan-viện-trưởng Lê Hữu Từ, chắc-chắn không khi nào phai-nhạt hình ảnh các người anh em đã cùng mình cất bước đồng-hành từ núi Phước-sơn đi gieo niềm tin mới, rồi lần-lượt thành hạt lúa mì gửi vào lòng đất Châu-sơn thật bi-thương. Đó là trường-hợp thầy Gio-an vì kiệt sức đã trút hơi thở ngay đang khi lắng nghe cha Bề-trên nắm tay khuyên-nhủ. Một thấy khác từ-trần vì bệnh sốt rét. Một trường-hợp nữa, khi cha Bề trên Lê Hữu Từ đến thăm phòng các bệnh nhân trước giờ đi ngủ, gặp một đan-sĩ đã tắt thở trong tư-thế ngồi dựa vào tường. Và vào một buổi trưa nắng gắt, một thầy bị sốt rét nhưng không muốn được nghỉ-ngơi khác mọi người mà vẫn đi làm cùng anh em và đã ngã xuống rồi tắt thở ngay trên luống đất đang cuốc dở.
Tuy cảnh đời thực-tại quá cam-khổ, song Châu-sơn vẫn như có sức hấp-dẫn giữ chân các người đã đến, đã tuyên-tín quyết ở lại ngay trong cảnh sống khắc-nghiệt, thiếu-thốn cả dinh-dưỡng lẫn thuốc men vì ai cũng vững tin có một ngày không xa, nơi đây hoa trái tin yêu sẽ rộ nở.
- Ngày 18-02-1937, trong hoàn-cảnh chiến-tranh đang đe-doạ, nghi-thức đặt viên đá đầu tiên xây-dựng thánh-đường Châu-sơn đã được diễn ra dù chỉ giữa vài ba anh em đan-sĩ với nhau, song lại là hoa quả đầu mùa mở đầu cho hành-trình thực-hiện từng ngày ước mơ của một cộng-đoàn người tin giữa lòng Giáo-hội.
- Ngày 19-7-1945, đang khi cộng-đoàn Châu-sơn từng bước nỗ-lực theo đuổi chương-trình phát-triển đan-viện, linh-mục Lê Hữu Từ được Giáo-hoàng Pi-ô XII chính-thức chọn làm Giám-mục hiệu-toà “Daphnusia” và cũng là Giám-quản Tông-tòa Phát-diệm; mở ra một trang mới trong hành-trình đức-tin của ông.
- Ngày 29-10-1945, chính-thức cử-hành nghi-thức tấn-phong Giám-mục.
- Ngày 01-11-1945, Giám-mục Phát-diệm.
- Từ tháng 11-1948 đên tháng 3-1950, kiêm Giám-quản Tông-tòa Giáo-phận Bùi-chu sau khi Giám-mục Hồ Ngọc Cẩn qua đời.
Người đan-sĩ khổ-hạnh, từng ròng-rã 17 năm thinh-lặng sống đời lao-động và cầu-nguyện, đã vâng-phục bước ra khỏi chốn ẩn-tu để đôi chân nứt-nẻ vì thường đi đất, bắt đầu dấn bước trên hành-trình sứ-vụ mới và hai tay chai sằn vì đẽo đá, vì cuốc đất nhặt cỏ, sẽ phải vươn đến không chỉ riêng trách-nhiệm với một giáo-phận, mà còn cả một khung trời quê-hương đang giữa cơn biến-động phức-tạp chưa lường được của đất nước.II. Một chủ chăn miệt-mài phục-vụ Thiên Chúa và Tổ-quốc
Ngày 29-10-1945, lễ tấn phong giám-mục của đan-sĩ Lê Hữu Từ được cử- hành tại nhà thờ chính-tòa Phát-diệm. Hiện-diện trong buổi lễ, phía Giáo-hội Công-giáo, không có bất kỳ một giám-mục ngoại-quốc nào được mời tham-dự nghi-thức trang-trọng này ngoài ba giám-mục Việt-Nam là giám-mục Gio-an Bao-ti-xi-ta Nguyễn Bá Tòng, giám-mục Đa-minh Ma-ri-a Hồ Ngọc Cẩn và giám-mục Phê-rô Mac-ti-nô Ngô-Đình Thục cùng các linh- mục Tổng-đại-diện các Giáo-phận Hà-nội, Thanh-hoá, Bắc-ninh, Thái-bình, Hưng-hoá, Bùi-chu, Lạng-sơn, Hải-phòng, Huế, Vinh. Ngay cả khi giám-mục Ngô-Đình Thục bị mật-thám Pháp cản-trở không đến được thì cũng chỉ còn giám-mục Nguyễn Bá Tòng chủ phong và giám-mục Hồ Ngọc Cẩn phụ-phong mà không một giám-mục ngoại-quốc nào được nhờ thay thế. Tác-giả Charles Keith trong cuốn “Công-giáo Việt-Nam từ Đế-chế đến Quốc-gia” nhận-định sự việc này cho thấy các giám-mục Việt-Nam đã khởi đầu chủ-nghĩa dân-tộc trong cộng-đồng Công-giáo Việt-Nam. Phía quan-khách, có Thượng-tọa Thích Trí Dũng, Đại-đức Thích Tâm Châu và một phái-đoàn của Chính-phủ Lâm-thời Việt-minh gồm Bộ-trưởng Tài-chính Phạm Văn Đồng, Bộ-trưởng Nội-vụ Võ Nguyên Giáp, Bộ-trưởng Kinh-tế Nguyễn Mạnh Hà, Bộ-trưởng Tuyên-truyền Trần Huy Liệu và Cựu-hoàng Bảo-Đại đang là cố-vấn tối-cao của Chính-phủ Việt-minh.
Buổi lễ tấn-phong này không đơn-thuần là một nghi-lễ tôn-giáo với các quan-hệ xã-giao thông-thường, song là một biến-cố chưa từng có giữa bối-cảnh chính-trị phức-tạp lúc đó, để người vừa tiếp-nhận sứ-vụ chắc-chắn đã hiểu ra con đường dấn-thân mới sẽ phải tận sức đem khẩu-hiệu giám-mục đã chọn là "Tiếng kêu trong hoang địa" - Vox Clamantis” không chỉ để gióng lên trong phạm-vi giáo-phận mình quản-nhiệm, mà còn vang xa cùng dân-tộc trong khát-vọng độc-lập và tự-do. Một tiếng kêu rõ-ràng nhất trong trong giai-đoạn lịch-sử phức-tạp của đất nước Việt-Nam. Và rồi thực-tế sau này đã chứng-minh, đây đúng là một tiếng kêu không chỉ vang trong các nhà thờ của giáo-phận Phát-diệm với những nghi-thức thuần-túy tôn-gíáo, mà còn là tiếng lòng của một sĩ-phu Việt-Nam luôn nặng mang hai chữ “quốc-gia” trong trái tim, một trái tim đong đầy tình-tự dân-tộc, hoà-quyện với giáo-lý yêu thương của Đấng Cứu-thế.
Giám-mục Lê Hữu Từ đã làm sáng lên chủ-nghĩa dân-tộc nơi cộng-đồng Công-giáo và lan-toả đến các lằn ranh chính-kiến, kể cả các chiến-tuyến giữa đạo và đời bằng âm vang một tiếng tiếng kêu tâm-linh. Tiếng kêu này đã vang lên, không phải nơi hoang-điạ, mà giữa cơn gió bụi mịt-mù của lịch-sử Việt-Nam, để không còn là tiếng kêu mà là tiếng gọi quyết-liệt đầy thương yêu của người đi làm chứng-nhân bằng năng-quyền quản-trị của một ngôn-sứ. Con đường ngôn-sứ này, hơn nửa thế-kỷ sau, Hồng-y Joseph Ratzinger khi chưa làm Giáo-hoàng, còn nhấn-mạnh cụ-thể hơn dịp trả lời nhà báo Peter Seewald…"Ngày nay người ta nói nhiều về vai trò ngôn sứ của Giáo-hội. Từ ngữ đó đôi lúc bị lạm dụng. Nhưng đúng là Giáo-hội không bao giờ đuợc phép chạy theo thời. Giáo-hội phải nói lên cái xấu và cái nguy của thời-đại, phải nhắc nhở lương tâm những kẻ có quyền, cả những người trí thức và cả những kẻ thờ-ơ hẹp hòi trước những nỗi thống-khổ của thời-đại. Là giám-mục, tôi thấy có nhiệm-vụ phải làm chuyện đó. Lại nữa tình trạng suy đồi qua hiển nhiên: đức tin mệt mỏi, ơn gọi tu-trì sút giảm, luân lý đạo đức xuống cấp ngay cả trong giới giáo sĩ, tình trạng bạo lực càng ngày càng tăng...Lời Chúa trong Kinh Thánh và những lời của các giáo phụ như vang lên trong đầu tôi, kết án nặng nề những mục tử nào làm chó câm để tránh bị phiền toái và vì thế để cho nọc độc lan tràn. Im lặng không phải là bổn phận hàng đầu của người công dân và riêng tôi, tôi kinh sợ cảnh một giám-mục chỉ biết an-phận, chỉ lo làm sao để tránh phiền phức và lấp liếm xung đột...”. Đây đúng là sứ-vụ, là trách-nhiệm phát-xuất từ đức bác-ái vô-điều-kiện và lòng ái-quốc chân-thành.
1. Trách-nhiệm mục-vụ tại giáo-phận Phát-diệm
Ngay sau khi nhậm chức, giám-mục Lê Hữu Từ phải đối-diện với hoàn-cảnh xã-hội Việt-Nam đang có nhiều biến-chuyển chính-trị và thực-tế trước mặt là Phát-diệm cũng đang nhận hậu-quả khó-khăn của nạn đói năm Ất-dậu còn để lại. Vì vậy, bằng tâm-tư một chủ chăn đi gieo hạt giống công-bình và yêu-thương, thêm lương-tâm một người Việt-Nam chân-thành yêu nước luôn nặng mang tinh-thần dân-tộc trong trái tim một sĩ-phu ưu-thời mẫn-thế, ông đã dung-hoà một hướng tới, không chỉ là một giám-mục lo về tâm-linh, mà còn là một người lãnh-đạo muôn người, phải mở rộng vòng tay khi có thể bảo-vệ đồng-bào mình đang khốn-đốn vì tai trời nạn nước. Vì vậy mà giám-mục Lê Hữu Từ đã không thoái-thác bất cứ hành-động nào xét thầy cần làm, ngay cả khi phải chọn thế đứng giữa các lằn ranh chính-kiến, cũng là vì muốn có nền độc-lập cho đất nước thì phải chống cả thực-dân và cộng-sản.
Các Ủy-ban được thành-hình như Ủy-ban Cứu-tế để lo việc cứu-trợ, Ủy ban Quân-chính lo các vấn-đề về quân-sự và chính-trị, trong đó có lực-lượng Thanh-niên Công-giáo Cứu-quốc. Cùng hưởng-ứng tinh-thần này, các linh-mục Tổng-đại-diện và các đại-biểu giáo-dân ở các địa-phận miền Bắc và miền Trung tổ-chức một cuôc họp thành-lập Liên-đoàn Công-giáo Việt-Nam với phương-châm hành-động vì Thiên Chúa và Tổ-quốc.
Vào ngày 25-02-1946, ông Hồ Chí Minh về Phát-diệm, chính-thức mời giám-mục Lê Hữu Từ làm Cố-vấn tối-cao của Chính-phủ Liên-hiệp Kháng-chiến, cùng với Cựu-hoàng Bảo-Đại. Lời mời này kèm theo sự cam-kết của ông Hồ Chí Minh, hứa để Phát-diệm là khu tự-trị ngoài vòng kiểm-soát của chính-quyền Việt-minh, có toàn-quyền tự-quản theo một cơ-chế riêng, có quyền tự tổ-chức lực-lượng an-ninh và quân-đội riêng. Các cán-bộ Việt-minh không được tuỳ-tiện ra vào Phát-diệm nếu không có phép của Toà-giám-mục. Vì vậy, Phát-diệm đã không bị rơi vào chiến-dịch tàn-phá theo chủ-trương “tiêu-thổ kháng-chiến” của Việt-minh. Đồng-thời, dân-chúng cũng không phải tản-cư mà ngược lại, đã có tới hàng trăm ngàn người từ các nơi gồm mọi giai-cấp và tôn-giáo khác nhau, đã chọn tìm về Phát-diệm vì muốn tránh cả Pháp lẫn Việt-minh. Để giải-quyết tình-trạng cư-trú cho những người tản-cư này, giám-mục Lê Hữu Từ quyết-định ngừng tiến-hành dự-án xây lại Đại-chủng-viện và tái-thiết trường Trần Lục, để lấy đất và chi-phí dựng nhà cho các gia-đình tìm đến có nơi an-cư.
Vào thời-gian Nhật đảo-chính Pháp năm 1945, linh-mục Hoàng Quỳnh đã tổ-chức và làm Tổng-tuyên-úy đoàn-thể Thanh-niên Công-giáo Phát-diệm. Đây là một lực-lượng được võ-trang, có chiến-khu đặt ở Chi-nê, Hoà-bình. Vào đêm 20-8-1945, sau khi Việt-minh đã cướp chính-quyền tại Hà-nội, linh-mục Hoàng Quỳnh chỉ-huy lực-lượng này về chiếm giữ các huyện Kim-sơn, Yên-khánh, Nho-quan và làm chủ tình-thế. Vì mới chỉ nắm được chính-quyền trước một ngày nên Việt-minh chưa kịp phản-ứng, nhờ vậy người dân Phát-diệm và các vùng lân-cận tương-đối được yên-ổn trước hoàn-cảnh mới. Khi Phát-diệm trở thành một khu an-toàn, lực-lượng Thanh-niên Công-giáo Phát-diệm trở thành Lực-lượng Tự-vệ Công-giáo và giám-mục Lê Hữu Từ được xem là người thành-lập và lãnh-đạo, là linh-hồn của Lực-lượng Tự-vệ Công-giáo vùng Bùi-chu Phát-diệm.
Trong chín năm vừa chu-toàn trách-nhiệm chủ chăn một giáo-phận, vừa nắm quyền hành-chính cai-trị một vùng đất mang tên Bùi-chu - Phát-diệm, giám-mục Lê Hữu Từ đã chỉ hoàn-toàn thể-hiện đúng Đức Tin Ki-tô giáo mà duy-trì được thế đứng độc-lập và tự-trị cho một vùng đất quê-hương, ngoài sự kiểm-soát của cả chính quyền Việt-minh sau ngày 02-9-1945, cũng như với Chính-phủ Quốc-gia Việt-Nam của vua Bảo-Đại từ cuối năm 1949 và cả với người Pháp. Đây là một uy-thế được củng-cố và bồi-đắp không đơn-thuần là vì thẩm-quyền tôn-giáo hay các mánh-lới truyên-truyền bằng tiểu-xảo cai-trị mà chính từ tâm-ý dấn-thân thiết-thực dành cho khối dân-cư khoảng hai triệu rưỡi người, trong đó chỉ có 25% là giáo-dân. Đó là giáo-lý sống-động của người làm tông-đồ…“Ở đâu có người thiếu ăn, thiếu uống, thiếu mặc, thiếu nhà ở, thiếu thuốc men, thiếu việc làm, thiếu giáo-dục, thiếu những phương tiện cần thiết để sống xứng danh con người, ở đâu có người bị đau khổ vì nghịch cảnh, ốm yếu, chịu cảnh lưu đầy, tù ngục, thì ở đó bác-ái Ki-tô giáo phải tìm gặp, ân-cần săn-sóc, ủi-an và xoa dịu họ bằng những trợ giúp thích đáng…”(Sắc-lệnh về Tông-đồ Giáo Dân).
● Về mục-vụ: trong tình-trạng chiến-tranh đầy phức-tạp với quá nhiều biến-động lớn-lao, trên thế-giới cũng như tại Việt-Nam, giám-mục Lê Hữu Từ đã phải nỗ-lực hơn sự thường để không những điều-hành giáo-phận ứng-phó kịp theo hoàn-cảnh mà còn duy-trì nhịp sống tâm-linh trong cộng-đồng dân Chúa không bị chao-đảo trước hệ-phái vô-thần, đồng-thời bảo-vệ được người dân Phát-diệm, nói chung, thoát nhiều nguy-cơ đến từ bạo-lực của chủ-nghĩa cộng-sản.
- Nhờ tình-trạng an-ninh ổn-định của Phát-diệm, các dòng tu gốc ngoại-quốc sẵn có như dòng Đức Bà Truyền-giáo (Notre Dame des Missions), dòng Saint Paul (Saint Paul de Chartres), dòng Sư-huynh La-san (Frères des Écoles Chrétiennes) và ba thành-viên thuộc Hội Trợ-tá Truyền-giáo (Société des Auxiliaires des Missions - S.A.M), được bình-an sinh-hoạt và phát-triển. Nhất là sau khi ba nhân-sự Hội Trợ-tá Truyền-giáo S.A.M trực-tiếp đóng góp cho Phát-diệm làm an-toàn-khu Phát-diệm khởi-sắc thêm cứ như thời thái-bình thịnh-trị. Linh-mục Dieudonné Bourguignon Bửu giữ nhiệm-vụ giám-đốc Tiểu-chủng-viện Phúc-nhạc; linh-mục Jean Jacques Houssard làm giáo-sư Pháp-văn ở Tiểu-chủng-viện Phúc-nhạc và Đại-chủng-viện Thượng-kiệm và lo cho một số linh-mục, tu-sĩ, giáo-dân đi du-học; linh-mục Robert Wyllich Lịch lập nhà máy phát điện và giúp các nữ-tu Saint Paul de Chartres chăm lo bệnh-viện Phú-vinh.
- Tiếp-tục duy-trì và phát-triển chủng-viện và đời sống các dòng tu trong giáo-phận, như xây thêm nhà tập cho dòng Mến Thánh-giá Lưu-phương, mở-mang thêm trường thử Trì-chính.
- Quan-tâm đặc-biệt đến việc đào-tạo linh-mục. Gửi nhiều linh-mục và chủng-sinh du-học các nước. Đại-chủng-viện Phát-diệm có lúc cũng mở cửa đón nhận chủng-sinh từ các giáo-phận khác.
- Canh-tân Dòng Mến Thánh-giá Phát-diệm và kêu gọi hiệp-nhất các chi nhánh Dòng Mến Thánh-giá tại các giáo-phận trên toàn-quốc.
- Lập nhà in Lê Bảo Tịnh, in sách và tài-liệu về đạo. Phát-hành tờ báo Tiếng Kêu làm tiếng nói chính-thức của giáo-phận, sau đổi thành nguyệt-san Đời Sống. Thường-xuyên có các bài diễn-giải hướng-dẫn dân-chúng không phân-biệt lương giáo hiểu biết về học-thuyết xã-hội Công-giáo, về chủ-nghĩa Mác-xít và cách-thức chống lại chủ-nghĩa này. Vì vậy, không ai lạ gì khi thấy khối công-dân cũng như giáo-dân Phát-diệm vào thời ấy, bằng ý-hướng phục-vụ Thiên Chúa và Tổ-quốc, mà được xem như cùng chung cứu-quốc như Việt-minh, nhưng vẫn công-khai chống cộng-sản. Trong các sinh-hoạt tập-thể tại các nơi công-cộng, đang khi họ hoan-hô chính-phủ kháng-chiến của Hồ Chí Minh thì cùng lúc họ lại vẫn quyết-liệt hô đả-đảo cộng-sản.
- Chính-thức thành-lập Liên-đoàn Công-giáo Địa-phận để phát-huy tinh-thần đoàn-kết trong giáo-phận. Tổ-chức này sinh-hoạt song-song với tổ-chức Công-giáo Cứu-quốc của mặt-trận Việt-minh.
- Trên đường đi dự Năm Thánh 1950, giám mục Lê Hữu Từ đã đến Paris để gặp Tổng-thống Pháp Vincent Auriol, các giới-chức cao-cấp trong Chính-phủ Pháp như René Pleven, Robert Schuman, Jean Letourneau, Georges Bidault…yêu-cầu nước Pháp công-khai rõ-ràng về nền độc-lập của Việt-Nam.
● Về xã-hội
- Ngoài việc vẫn duy-trì trường Trần Lục hoạt-động đều-đặn, còn thúc-đẩy việc mở thêm nhiều trường Công-giáo tại các giáo-xứ, giáo-điểm để đáp-ứng nhu-cầu giáo-dục cho hàng chục ngàn con em ở các địa-phương. Cũng đồng-thời, khuyến-nghị các linh-mục quản-xứ mở các lớp bình-dân học-vụ cho giáo-dân.
- Bên cạnh việc thành-lập Ủy-ban Cứu-tế lo cho số người tản cư đến Phát-diệm mỗi ngày một tăng và vì hậu-quả của nạn-đói vẫn còn lan-rộng, giám mục Lê Hữu Từ đã với tư-cách cố-vấn tối-cao của chính-phủ để miễn thuế cho hai tỉnh Ninh-bình và Nam-định.
- Thực-hiện các chương-trình giúp người dân khai-khẩn đất bồi ven biển, sửa-sang lại gần bảy cây số con đê Cồn Thoi để bảo-đảm mùa màng.
- Thành lập các nghiệp đoàn Lao-công Công-giáo.
- Song-song việc chính-quyền thành-lập các đoàn-thể cứu-quốc như Phụ-lão cứu-quốc, Phụ-nữ cứu-quốc và Nhi-đồng cứu-quốc, An-toàn-khu Phát-diệm cũng thành-lập Tổng-bộ Công-giáo cứu-quốc và các chương-trình luyện võ cho thanh-niên, các nhóm cứu-thương dành cho phụ-nữ và các nhóm Nhi Hồng cho thiếu-nhi sinh-hoạt theo cách của các hướng-đạo-sinh.
- Toà-giám-mục Phát-diệm và một số thân-hào nhân-sĩ điạ-phương cùng chung tay với Chính-quyền Quốc-gia thành-lập một khu dân-sinh mới ngay bên bờ sông Trì-chính, tên quen gọi là khu trại Nam-dân. Từng căn nhà được san-sát dựng theo các nền đất chia đều trên khắp các đường ngang dọc như bàn-cờ, giống như mô-hình các khu chung-cư hay cư-xá bình-dân ở thành-phố.
2. Tại Miền Nam sau cuộc di-cư 1954
- Lập lại Tiểu-chủng-viện Phát-diệm tại Phú-nhuận.
- Xây-dựng cơ-sở cho Dòng Mến Thánh-giá Phát-diệm tại Gò-vấp
- Giám-đốc Trung-tâm Công-giáo Việt-Nam tại Sài-gòn
- Giám-đốc Nha Tuyên-úy Công-giáo Quân-đội Việt-Nam Cộng-hoà.
- Xây nhà hưu-dưỡng tại Gò-vấp dành cho các linh-mục, tu-sĩ gốc Phát- diệm.
- Lập một trụ-sở của Phát-diệm tại Roma. Các linh-mục Vũ Kim Điện, Trần Văn Huy thay nhau trong trách-nhiệm từng bước chỉnh-trang trụ-sở này và trở thành Foyer Phát-diệm như ngày nay
- Hướng-dẫn và kêu gọi các linh-mục gốc Phát-diệm hưởng-ứng và tham-gia chương-trình của Phủ Tổng-uỷ Di-cư hầu có thể giúp giáo-dân Phát-diệm được cùng chung nơi định-cư tại các vùng Bình- xuyên, Gia-kiệm, Phương-lâm, Bảo-lộc, Cần-thơ, Bến-tre…cho dễ tương-trợ lẫn nhau.
- Nghỉ hưu một thời-gian tại tu-viện Châu-sơn ở Đơn-dương là chi nhánh của dòng Xi-tô Phước-sơn, trước khi về sống tại An-dưỡng-viện Phát-diệm ở Xóm Mới, Gò-vấp cho đến khi qua đời.
III. Một sĩ-phu ái-quốc và cương-trực
Trong tang-lễ ngày 27-4-1967, Trung-tướng Nguyễn Văn Thiệu với vị-thế Chủ-tịch Ủy-ban Lãnh-đạo Quốc-gia, truy-tặng cố giám-mục Lê Hữu Từ Bảo-quốc Huân-chương hạng Hai và Anh-dũng Bội-tinh hạng Ba. Việc làm này của Chính-phủ Việt-Nam Cộng-hoà mang ý-nghĩa bày-tỏ niềm tri-ân của Tổ-quốc đối với một bậc chân-tu đã đem chân-lý yêu-thương hoà trong dòng sinh-mệnh của Dân-tộc.
- Là một sĩ-phu ái-quốc theo chủ-nghĩa dân-tộc tuyệt-đối, khi nghe tin chiến-khu Quỳnh-lưu thành-lập với mục-đích kháng Nhật và chống Pháp, linh-mục Lê Hữu Từ đã âm-thầm tim gặp. Rồi ngay cả khi biết trong hàng-ngũ họ cũng có người theo chủ-nghĩa Mác-xít, ông vẫn hy-vọng họ là một tổ-chức chính-trị yêu nước rất cần sự hỗ-trợ. Cho nên, với tư cách là trưởng đan-viện Châu-sơn, linh-mục Lê Hữu Từ đã nhiều lần không ngần-ngại cho cán-bộ Việt-minh ẩn trốn trong tu-viện khi cần tránh quân Nhật và Pháp.
- Với tư cách cố-vấn tối-cao của Chính-phủ, giám mục Lê Hữu Từ đã thẳng-thắn phản-đối ông Hồ Chí Minh về việc ký với Jean Sainteny Hiệp-định Sơ-bộ ngày 06-3-1946, chấp-nhận để quân-đội Pháp đến thay quân-đội Trung-hoa đang có mặt ở phía Bắc vĩ-tuyến 16. Cùng ngày này, quân Pháp đổ-bộ Miền Bắc bằng ngả sông Cấm vào thành-phố Hải-phòng.
- Sau ngày Hồ Chí Minh ký Hiệp-định Sơ-bộ và các tạm-ước để quân-đội Pháp trở lại Việt-Nam thì Phát-diệm bắt đầu vướng vào hệ-luỵ. Bởi vì, khi các lãnh-tụ Quốc-gia lần-lượt tỏ thái-độ phản-kháng việc làm này của Hồ Chí Minh bằng cách ra khỏi Chính-phủ Liên-hiệp Kháng-chiến, rồi đồng loạt phải tìm cách đào-thoát để tránh khủng-bố của Việt-minh, thì dân-chúng quanh vùng Phát-diệm cũng thường-xuyên có những vụ bị bí-mật bắt đi.
- Trong cuộc chiến giữa Pháp và Việt-minh, dù Bùi-chu Phát-diệm vẫn trong thế đứng độc-lập và tự-chủ dưới sự chỉ-huy của Tổng-bộ Tự-vệ Công-giáo; song sau khi Chính-phủ Liên-hiệp Kháng-chiến của Việt-minh tan-rã, các đảng-phái quốc-gia bị nằm trong chiến-dịch thanh-trừng, nên Phát-diệm cũng là mục-tiêu bị nhắm chung vì nơi đây vốn là khu an-toàn của những người chống cộng-sản.
- Vào thời-điểm cuối năm 1946, đã có hàng mấy ngàn người trong các vùng chung quanh Phát-diệm bị Việt-minh bắt giữ với các tội-danh bị gán cho là hoạt-động đảng-phái, có tinh-thần kháng-chiến tiêu-cực cần phải xét lại…Những giáo-dân bị bắt thường là thành-viên trong Hội-đồng Mục-vụ các xứ đạo, các người tham-gia hay ủng-hộ tổ-chức Thanh-niên Công-giáo Cứu-quốc và Liên-đoàn Công-giáo chẳng hạn. Trước tình-trạng này, giám-mục Lê Hữu Từ thẳng-thắn gửi thư yêu-cầu Hồ Chí Minh và Việt-minh phải trả tự-do cho những người bị bắt vì các tội-danh như trên. Lý-do ông nêu ra là chính-sách khủng-bố này đã tạo chia-rẽ giữa Công-giáo và Việt-minh. Kết-quả, dù Chính-phủ Việt-minh giải-quyết thoả-đáng yêu-cầu này, song một lằn ranh đã vạch ngang khi phía giáo-dân nghi-ngờ chính-quyền là Cộng-sản, còn Việt-minh lên án dân-chúng Phát-diệm thiếu liên-kết với kháng-chiến. Người dân Bùi Chu Phát-diệm mất dần niềm tin vào Chính-phủ Dân-chủ Cộng-hoà.
- Tháng 9-1947, Hồ Chí Minh cử một phái-đoàn chính-phủ về Phát-diệm trao cho “cố-vấn tối-cao” Lê Hữu Từ văn-thư chính-thức quyết-định giao quyền cai-trị toàn huyện Kim-sơn cho Giám-mục Lê Hữu Từ. Các cơ-quan hành-chính và quân-sự của chính-quyền lui ra khỏi phạm-vi quy-định. Song cũng từ đây, tương-quan giữa giáo-quyền Phát-diệm và chính-quyền Việt-minh chỉ còn là các cuộc thương-lượng vì tại các điạ-phương trong giáo-phận đã xẩy ra các vụ đụng-độ giữa bộ-đội Việt-minh và Lực-lượng Tự-vệ Công-giáo. Hoàn-cảnh này dẫn đến tâm-lý người dân Bùi-chu Phát-diệm mất dần hảo-cảm cũng như giám-mục Lê Hữu Từ thay đổi cách nhìn về Việt-minh.
- Theo ghi nhận của báo Catholic New Service ngày 24-8-1949, giám-mục Lê Hữu Từ từng bị ám-sát hụt ba lần ngay trong khu-vực Phát-diệm.
- Giám-mục Lê Hữu Từ quyết-định ủng-hộ lập-trường chống Việt-minh cộng-sản của Chính-phủ Quốc-gia được thành-lập, khi Quốc-trưởng Bảo-Đại chính-thức tuyên-bố với quốc-dân vào ngày 14-6-1949 về một nước Việt-Nam hoàn-toàn độc-lập. Đồng-thời Chính-phủ Quốc-gia cũng được Tòa-thánh Vatican công-nhận và thiết-lập bang-giao.
- Tháng 10-1949, quân-đội Pháp nhảy-dù xuống Phát-diệm. Trong dịp này, Quốc-trưởng Bảo-Đại đặc-biệt cho người cầm về Phát-diệm trao tận tay giám-mục Lê hữu Từ bức thư mang quyết-định để giám-mục lập một khu tự-trị gồm phần Phát-diệm sẵn có và mở rộng thêm đến toàn-thể khu-vực Bùi-chu. Lực-lượng Tự-vệ Công-giáo trực-tiếp trách-nhiệm với Quốc-trưởng Bảo-Đại như là một Phong-trào Quốc-gia Tự-vệ. Bùi-chu Phát-diệm thành khu an-toàn rộng lớn, lan dần tới tận Phúc-nhạc, Gia-khánh, Gia-viễn và Nho-quan dưới sự chỉ-huy tối-cao của Tổng-bộ Tự-vệ Công-giáo đặt căn-cứ tại Phát-diệm.
- Lực-lượng Tự-vệ Công-giáo được trang-bị thêm vũ-khí. Các giáo-xứ bắt đầu chương-trình huấn-luyện thanh-niên về quân-sự. Trong nghi-thức chào Cờ Quốc-gia, sau khi bài Quốc-ca “Tiếng gọi thanh-niên” chấm-dứt, bài hát “Hướng về Vatican” được cất lên…Ta người Công-giáo giải-phóng non-sông, cương quyết đấu tranh Nam Bắc một lòng xông-pha quật-cường sống. Sơn hà nguy biến đã có chí trai, cương-quyết hy-sinh cho khắp muôn nhà tự-do vẫy-vùng. Quyết thắng ta hướng về Vatican thành cao sáng. Vatican, Vatican ánh sáng soi cho khắp nhân-loại thanh-bình. Duy trì bác-ái cho muôn dân thương cùng nhau. Dẫu có khổ đau mau dâng lên cùng Chúa ta…
- Tháng 6-1951, quyền tự-trị về hành-chính của Phát-diệm chính-thức chấm dứt do quyết-định của Thủ-tướng Trần Văn Hữu, vị-trí khu an-toàn trước đó được tái sáp-nhập vào chung hệ-thống cai-trị của Chính-quyền Quốc-gia, song tinh-thần một thời tự-vệ tự-cường vẫn còn trong tâm-thức người dân.
- Theo tác-giả Nguyễn Tiến Hưng…Lập trường của giám mục Từ là chống đối việc chia đất, nhưng khi thấy chiều hướng đã rõ về việc này, ngài chuyển sang tranh đấu để phía Quốc Gia vẫn còn giữ được một chổ đứng ở Miền Bắc. Giới lãnh đạo “Tổng Bộ Tự Vệ” lúc ấy đều biết rằng giám mục Từ đang bí mật yêu cầu ông Bảo-Đại qua Thủ Hiến Bắc Việt và cả phía tướng lãnh Pháp để giữ lại khu vực Phát Diệm, Bùi Chu…(Khi Đồng Minh nhảy vào. Trang 156).
- Sau Hiệp-định Genève, giám-mục Lê Hữu Từ cũng như lực-lượng Bảo-an-đoàn - mà phần lớn là hậu-thân của Lực-lượng Tổng-bộ Tự-vệ - vẫn còn muốn cố-thủ Phát-diệm - đã không có kế hoạch di-tản.
- Ngày 29-6-1954, Phát-diệm bị bỏ ngỏ sau khi bị Việt-minh về tấn-công vào lúc gần nửa đêm cùng với sự sắp-xếp của người Pháp để ép giám-mục Lê Hữu Từ phải ra đi. Bởi vì, sau cuộc giao-tranh, chỉ-huy cao-cấp của Pháp đến gặp giám-mục Lê Hữu Từ và khi đó việc di-tản mới đặt ra. Người Pháp đem một tầu chiến nhỏ đậu ở sông Trì-chính, giúp việc di-tản. Sự việc đến bất-ngờ và khẩn-cấp nên giám-mục Lê Hữu Từ phải chọn lựa, cùng một số giáo-dân rời Phát-diệm như mọi người di-cư để gìn-giữ một niềm tin…
Mỗi khi nói hay viết về giám-mục Lê Hữu Từ, đã có các người thường vẫn giữ một nhận-định chung-chung rằng đây là một giám-mục làm chính-trị hơi nhiều.
Hướng nhìn này phát-sinh bởi nhóm chữ “tôn-giáo không làm chính-trị” vốn đã từ lâu được các nhà lãnh-đạo tinh-thần lạm-dụng cách hàm-hồ như một loại “thẻ-bài miễn-tử” để họ độc-quyền quay lưng với trách-nhiệm phải dấn-thân phục-vụ công-ích và công-bằng xã-hội bằng năng-quyền quản-trị và giáo-huấn cùng với bổn-phận vuơng-đế và ngôn-sứ.
Thực-tế, “làm chính-trị” theo đúng nghĩa không phải dễ và ai cũng làm được. Bởi vì, muốn làm chính-trị đúng nghĩa thì ít nhất cũng phải có trình-độ chính-kiến, thích quan-tâm về chính-sự, có khả-năng và uy-thế để bước vào chính-giới và giầu kiến-thức trong chính-luận nơi chính-trường, có tài tổ-chức hoặc gia-nhập các chính-đảng rồi thành chính-khách hay chính-trị-gia, được chính-thức dự phần vào guồng máy chính-quyền với chức-vụ nào đó gọi là tham-chính, thì theo cách này, đúng là Giáo-hội cấm các tu-sĩ tham-gia như quy-định của “Hiến-chế Mục-vụ” về “Cộng-đoàn chính-trị và Giáo-hội”…Giáo-hội không thể đồng-hoá với một cộng-đoàn chính-trị và cũng không cấu kết với bất cứ hệ-thống chính-trị nào… (câu 76). Vì vậy, nếu như một chức-sắc nào trong Giáo-hội, dù tự-ý hay bị ép-buộc, qua các hình-thức tham-gia guồng máy chính-quyền, đấy mới là làm chính-trị, mới là có sự cấu-kết như Hiến-chế Mục-vụ nêu ra. Và điều này chứng-tỏ họ đã bị thuần-hoá bởi hệ-thống quyền-lực chính-trị rồi. Và đây mới chính là giới-hạn cảnh-cáo của Giáo-hội. Còn khi dấn-thân vào chính-trường không phải vì tham-vọng cá-nhân muốn chạy theo quyền-lực, mà vì muốn thay cho anh em mình lên tiếng giữa cuộc sống để bảo vệ đức tin, để duy-trì lương-tâm Công-giáo và công-bằng xã-hội thì lại chính là sứ-vụ, như khi giám-mục Lê Hữu Từ xác-định…Làm chính trị theo nghĩa giành lấy quyền hành thì tôi không làm; nhưng nếu là để cứu dân, giữ đạo và giữ gìn làng mạc, bảo vệ tự do tôn giáo thì tôi phải làm. Không ai được quyền đứng nhìn người ta chết, nhà thờ cháy và giáo-dân ly tán rồi nói tôi chỉ là giám mục…Cho nên, bằng tâm-ý chỉ phụng-sự Thiên Chúa và Tổ-quốc, giám-mục Lê Hữu Từ đã phải làm và đã thành-công trong việc bảo-vệ khu tự-trị Bùi-chu Phát-diệm thoát khỏi sự khuynh-loát của cả thực-dân lẫn cộng-sản, phù-hợp với sự khẳng-định của “Hiến-chế Mục-vụ về Giáo-hội Trong Thế-giới Ngày Nay” là "Giáo-hội cũng phải được quyền nói lên nhận-định luân-lý của mình về cả những vấn-đề liên-quan đến lãnh-vực chính-trị khi quyền-lợi căn-bản của con người hay phần rỗi các linh-hồn đòi hỏi”. Đồng-thời, hai chữ “tôn-giáo” cũng không thể bị thu hẹp để chỉ bao-dung gọn gàng cho từng cá-nhân mục-tử, đang mang trọng-trách lãnh-đạo tinh-thần của một khối tín-hữu giữa cộng-đồng xã-hội mà làm ngơ mọi sự. Chẳng những thế, gíám-mục Lê hữu Từ cũng còn bị nhiều chức-sắc thời nay đang trong thế đứng chăn-dắt phê-phán bằng nhóm chữ “không thức thời”. Chắc hẳn chữ “thức thời” trong ý-kiến này chỉ mang nghĩa là phải xuôi theo hoàn-cảnh chính-trị trước mặt, hoặc là để củng-cố cả quyền lẫn lợi, hoặc có khi chỉ vì mục-đích cầu-an, dù biết là phải thoả-hiệp ngay cả với sự dữ của thế-gian…
Còn một điều đáng buồn cũng cần nói là kháí-niệm “chó câm” mà Hồng-y Joseph Ratzinger, sau là Giáo-hoàng Biển-đức 16, nêu ra đã bị rất nhiều tu-sĩ, giáo-sĩ - vì không biết hay cố tình không muốn biết - khi cho là người dùng nó đã quá nặng lời, đã nên cớ cho nhiều người sẵn bất-mãn với “các đấng làm thầy” vin vào mà công-khai mỉa-mai các chủ-chăn. Song thực-tế chính-xác, đây là khái-niệm có từ thời Cựu-ước, được ghi rõ nơi sách I-sai-a chương 56, các câu 1 và 10-11, về các thủ-lãnh bất xứng như sau:…Đức Chúa phán như sau: hãy tuân giữ điều chính trực, thực hành điều công minh vì ơn cứu độ của Ta đã gần tới… Những người canh gác Ít-ra-en đui mù hết, chẳng hiểu biết gì; cả bọn chúng là lũ chó câm, không biết sủa, chỉ mơ mộng nằm dài và thích ngủ thôi. Chúng còn là lũ chó đói ăn chẳng biết no. Thế mà chúng lại là mục tử, thứ mục tử chẳng biết phân biệt gì. Cả bọn - chẳng trừ ai - mạnh ai theo đường nấy, chỉ mưu tìm lợi lộc cho riêng mình…”. Và gần đây, Đức Thánh Cha Phan-xi-cô trong Thông- điệp “Laudato Si” cũng đã chẳng kêu gọi Giáo-hội do something to solve our problems - phải hành-động cách nào để giải-quyết các vấn-đề…đó sao.
Phạm Minh-Tâm
Mùa Chay 2026
- Từ khóa :
- Lê Hữu Từ
Gửi ý kiến của bạn










