Con Người và Quyền Lực – Quyền Bính và Vâng Phục

15/10/20249:43 SA(Xem: 6528)
Con Người và Quyền Lực – Quyền Bính và Vâng Phục

 Con Người và Quyền Lực – Quyền Bính và Vâng Phục

aaa

Một xã hội muốn ổn định và phát triển phải có trật tự, phải đi theo một đường lối. Nếu bát nháo mạnh ai nấy làm, tuỳ hứng, xã hội sẽ suy thoái và diệt vong. Cái giúp ổn định, giúp phát triển đó gọi là quyền bính. Quyền bính ắt sẽ dẫn tới sự hình thành hai lớp người: kẻ ra lệnh và người tuân hành. Để dễ dàng thực hiện quyền bính, người ta viết nên luật pháp.
 
1) Quyền bính: bản chất và nguồn gốc
Xã hội là một cơ cấu, một tổ chức đương nhiên phải có quyền bính để duy trì sự tồn tại.
Bản chất quyền bính:
xã hội nguyên thuỷ, quyền bính đến từ sức mạnh cơ bắp. Kẻ mạnh cai trị kẻ yếu.
Đến thời phong kiến, quyền bính nằm trong tay vua chúa, nhiều khi được thần thánh hoá để yên dân. Vua được coi là «thiên tử», là con của trời, thay trời mà cai trị.
Đến chế độ cộng hòa thì pháp luật được thượng tôn. Dù là ai, dù là tổng thống, cũng phải dưới luật pháp. Quyền lực đến từ nhân dân; nhân dân làm ra luật pháp.
Trên thực tế, thời nào cũng vậy, quyền bính thường bị lạm dụng với lắm chiêu bài gian xảo của kẻ thống trị để nắm quyền sinh sát trên tầng lớp bị trị, dù phong kiến hay cộng hòa.
Nguồn gốc quyền bính:
Quyền bính là cần thiết, nhưng nó đến từ đâu?
Chúa Giêsu trả lời Philatô: «Ông có quyền trên tôi, đó là bởi vì Thiên Chúa đã trao cho ông quyền ấy» (Ga 19:11).
Sách Huấn Ca viết: «Quyền bính trên địa cầu nằm trong tay Đức Chúa, khi đến thời đến buổi, Người sẽ cho xuất hiện kẻ hiền tài» (Hc 10:4).
Thánh Phaolô cũng nói trong thư gởi tín hữu Rôma: «Tất cả mọi quyền bính đều đến từ Thiên Chúa» (Rm 13:1).
Chúa cho xã hội con người quyền bính không phải để áp chế nhau nhưng để duy trì trật tự, mưu cầu lợi ích chung và phục vụ công ích. Đúng nghĩa người cầm quyền là «đầy tớ nhân dân». Chúa Giêsu đã nói và làm gương cho ta: «Ai muốn làm lớn giữa anh em thì phải làm đầy tớ anh em» (Mt 20:27).
 
2) Ý nghĩa của vâng phục
Thánh Tôma Aquinô nói: «Đời sống xã hội không thể có được, nếu không có người đứng ra lo cho ích chung, vì càng có nhiều người, càng có nhiều sở thích và mỗi người chỉ muốn theo ý riêng của mình» (Tổng luận thần học). Điều đó rất đúng cho xã hội hôm nay, trong một chế độ trọng dân chủ, dân quyền, chín người mười ý.
Xã hội phát triển đi lên là nhờ những khác biệt nảy sinh. Vâng phục làm ra sự đồng nhất giữa những khác biệt đó.
Vậy phải hiểu vâng phục như thế nào?
Thuyết chính danh của nho học thì cho rằng xã hội ổn định là nhờ tầng lớp nào cũng chu toàn bổn phận mình, vua cho ra vua, tôi cho ra tôi, chồng cho ra chồng, vợ ra vợ…
Kitô Giáo quan niệm quyền bính được Thiên Chúa trao ban cho tầng lớp cai trị và quyền bính phải được tuân hành để mưu cầu công ích. Đức vâng phục Kitô Giáo coi người nắm quyền là đại diện Thiên Chúa để hành xử công việc, không hẳn phải tài đức hơn người, nhưng là người được tuyển chọn cho một nhiệm vụ.
Chúa kêu gọi tiên tri Giêrêmia, ông miễn cưỡng đi làm ngôn sứ. Vì phải tiên báo cho dân ngỗ nghịch toàn điều tai ương, Giêrêmia từ chối: «A, a, a, lạy Chúa là Thiên Chúa, con đâu có biết ăn nói, vì con còn con nít». Nhưng Đức Chúa nói: «Trước khi tạo thành ngươi trong lòng mẹ, Ta đã biết ngươi, và trước khi ngươi ra khỏi lòng mẹ, Ta đã thánh hiến ngươi. Ta đã đặt ngươi làm tiên tri cho các dân tộc» (Gr 1:1-4).
Vì thế ta vâng phục không phải do tư cách của người cầm quyền mà là do Thiên Chúa đã tuyển chọn người ấy. Thánh Phaolô viết: «Ai chống lại quyền bính là chống lại trật tự Thiên Chúa thiết định» (Rm 13:1-2).
Tuy nhiên, vâng phục Kitô Giáo không có nghĩa là mù quáng tuân theo quyền bính như một đàn cừu, mà ý thức được rằng: cầm quyền là để phục vụ cộng đoàn, lợi ích chung, chăm lo cái thiện chứ không phải là để vinh thân phì gia, tư lợi cá nhân.
Đức vâng phục không đòi buộc ta phải tuân theo những chính sách làm trái ý muốn của Thiên Chúa, sai lương tâm.
 
3) Đức Vâng phục trong Giáo Hội
Giáo Hội là một cơ cấu xã hội vững chắc, được chính Chúa Giêsu thiết lập.
Giáo Hội là một thân thể:
Giáo Hội là một thân thể mà Chúa Giêsu là đầu của thân thể ấy và chúng ta là những chi thể.
Chúa phán với Phaolô trên đường đi đến thành Đamát: «Saolô:Saolô:sao ngươi bắt bớ Ta» . Phaolô hỏi lại: Người là ai? Tiếng đó đáp lại: «Ta là Giêsu:là người mà ngươi đang bắt bớ» (Cv 3:5).
Trong thư gởi tín hữu Êphêsô, thánh Phaolô viết: «Thiên Chúa… đặt Người làm đầu toàn thể Hội Thánh; mà Hội Thánh là thân thể Đức Kitô» (Eph 1:22-23). «Chính Người làm cho các bộ phận ăn khớp với nhau và toàn thân được kết cấu chặt chẽ, nhờ mọi thứ gân mạch nuôi dưỡng và mỗi chi thể hoạt động theo chức năng của mình» (Ep 4:16).
Cũng như thân thể hiệp nhất các phần chi thể thế nào, thì chúng ta cũng phải hiệp nhất với nhau như vậy. Các chi thể thì khác nhau, mỗi chi thể là một bộ phận, đảm nhận một nhiệm vụ.
Chúa Giêsu cũng ví chúng ta như cành nho mà Ngài là thân cây nho. Cành nào lìa cây sẽ khô héo ngay, không còn nhựa sống và chắc chắn sẽ chết. Chúng ta phải luôn kết hợp với thân thể là Đức Kitô để múc lấy nhựa sống.
Vâng phục chính là gắn bó với thân cây nho. Nghe mệnh lệnh điều khiển của cái đầu chính là Chúa Giêsu. Chính Chúa Giêsu đã làm gương trước cho ta, Ngài đã: «Vâng phục cho đến chết và chết trên thập giá» (Pl 2:8).
Thánh Linh và đặc sủng:
Chúng ta hay thường quên vai trò dẫn dắt và hoạt động của Chúa Thánh Thần trong Giáo Hội:như Chúa Giêsu đã phán: «Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ khác đến ở với anh em luôn mãi. Đó là Thần Khí sự thật, Đấng mà thế gian không thể đón nhận, vì thế gian không thấy và cũng chẳng biết Người. Còn anh em biết Người, vì Người luôn ở giữa anh em và ở trong anh em» Ga 14:16).
Ngay từ đầu, lúc Ngôi Hai xuống thế làm người, khi truyền tin cho Đức Mẹ, chúng ta đã thấy Ngài.
Hành động:
«Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà» (Luc 1:35).
Tái sinh và đổi mới:
«Nhờ phép rửa ban ơn Thánh Thần, để chúng ta được tái sinh và đổi mới» (Tt 3:5).
Dạy dỗ:
«Nhưng khi Đấng Bảo Trợ là Thánh Thần, Chúa Cha sẽ sai đến nhân danh Thầy, Đấng đó sẽ dạy anh em mọi điều và sẽ làm cho anh em nhớ lại mọi điều Thầy đã nói với anh em» (Ga 14:26).
Giáo Hội khi khởi sự làm bất cứ việc gì đều cầu xin Chúa Thánh Thần soi sáng.
Chúa Giêsu nói với Nicôđêmô về tác động của Chúa Thánh Thần: «Gió muốn thổi đâu thì thổi. Ông nghe tiếng gió nhưng không biết gió từ đâu đến và đi đâu» (Ga 3:8).
Ban các ơn sủng:
Ta không nên đóng khung, từ suy luận hạn hẹp của con người, Thánh Linh phải làm thế này thế kia mới đúng lý.
Thánh Phaolô khẳng định trong thư gởi tín hữu Êphêsô: Thánh Thần của Chúa «Chính Người đã ban ơn cho kẻ này làm tông đồ, người nọ làm ngôn sứ, kẻ khác làm người loan báo tin mừng, kẻ khác nữa làm người coi sóc và dạy dỗ. Nhờ đó, dân thánh được chuẩn bị để làm công việc phục vụ là xây dựng thân thể Đức Kitô» Eph 4. 11-12).
Rõ ràng, Thiên Chúa đã xếp đặt tất cả, từ quyền bính, phẩm trật trong Giáo Hội, coi như bộ phận lãnh đạo, mà thánh Phaolô gọi là ơn đặc sủng coi sóc, dạy dỗ, làm tông đồ.
Đến ơn đặc sủng chữa bệnh, làm phép lạ, phân biệt các linh, làm ngôn sứ của một số người mà mục đích là để phục vụ ích chung của Hội Thánh. (Đọc thư thứ 1 thánh Phaolô, chương 12:27-30).
Kết quả là hoa trái của Thánh Linh: «Bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tin, hiền hòa, tiết độ» (Gl 5:22).

Kết luận:
Giáo Hội Chúa Giêsu lập là để ban ơn cứu rỗi cho các linh hồn. Quyền bính Chúa trao là để phục vụ cho mục đích ấy.
Thánh Phêrô viết: «Không phải vì ham hố lợi lộc thấp hèn, nhưng vì lòng nhiệt thành tận tụy. Đừng lấy quyền mà thống trị những người Thiên Chúa đã giao phó cho anh em» (1 Pr 5:3).
Vâng phục cũng là để hoàn thành mục đích cao cả là cứu rỗi các linh hồn như Chúa muốn. Trong Giáo Hội không có mâu thuẫn đối kháng: chi thể này nói không cần chi thể kia. Nhưng tất cả đều phục vụ cho một mục đích.
Dùng lý trí để xét nét phải trái, hơn thua, là âm mưu của ma quỷ, nhằm gây chia rẽ. Khác biệt luôn là yếu tố để tiến bộ nhưng vâng phục quyền bính là rất cần thiết để hiệp hành. Cơ chế xã hội con người lúc nào cũng có thiếu sót, luôn cần khắc phục sửa sai.
Một câu thánh kinh mà mọi tổ chức có ý đồ muốn tách rời Giáo Hội thường trích dẫn là: «Phải vâng lời Thiên Chúa hơn vâng lời người ta» (Cv 5:29). Họ coi Chúa thuộc phe mình:còn bên kia thì không. Thần Khí chỉ có một: «Tất cả chúng ta đã được đầy tràn một Thần Khí duy nhất» (1 Cor 12:13).
Thánh Phaolô nói, nếu không có đức mến đi kèm thì tất cả các đặc sủng đều hóa vô ích: «Cao trọng hơn cả là đức mến» (1Cor 13:13).
Cho nên, vấn đề đã là người Kitô hữu thì ai ai cũng phải thật kiên nhẫn, đặt yêu thương hoà giải lên trên tất cả những bất đồng, đố kỵ, quyền lợi phe nhóm, ai ai cũng phải cảm thức cùng Giáo Hội (sentire cum Ecclesia) để xây dựng chứ không để phá hoại sự hiệp thông. Đừng bao giờ nói, hết cách rồi!

Tiếng Sa Mạc

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
21/01/2026(Xem: 18)
Là một nhà cách mạng tôn giáo, nhưng Đức Giêsu lại xuất thân từ Nadarét, thuộc vùng Galilê (miền Bắc) là «miền đất của dân ngoại», chứ Ngài không xuất thân ở vùng Giuđê (miền Nam) là vùng của người đạo Do thái với kinh đô và đền thờ Giêrusalem. Vì thế, Đức Giêsu được gọi là «người Galilê», điều này trái với quan niệm chung của người đạo Do Thái.
19/01/2026(Xem: 48)
Dân Do Thái được Thiên Chúa tuyển chọn làm dân riêng của Ngài, đó là điều thật hạnh phúc cho họ. Nhưng thay vì sống theo tinh thần khiêm cung của Ngài, họ lại lên mặt và khinh chê dân ngoại. Vì thế, khi Đấng Cứu Thế đến, Thiên Chúa đã không để cho vùng Giuđa – vùng đông người có đạo nhất – được vinh dự là nơi xuất thân của Đấng Cứu Thế. Mong rằng Giáo Hội không đi vào vết xe đã đổ!
14/01/2026(Xem: 410)
Vì tha thiết yêu thương nhân loại, Đức Giêsu đã trở nên «con chiên bị sát tế», đã chết cách thê thảm để cứu chuộc nhân loại. Và sự hy sinh ấy chính là cách Ngài thờ phượng và bày tỏ tình yêu đối với Thiên Chúa Cha, Cha của Ngài. Đó là cách thờ phượng và yêu mến Thiên Chúa tuyệt vời nhất, đẹp lòng Thiên Chúa nhất, mà chính Đức Giêsu đã làm gương để chúng ta làm theo.
14/01/2026(Xem: 406)
Đã là ngôn sứ thì phải dám nói lên tiếng nói của chân lý, công lý và tình thương, đồng thời dám trả giá rất cao, có khi bằng cả mạng sống của mình, cho lời chứng của mình giống như Gioan. Đó là đặc điểm không thể thiếu của những ngôn sứ đến từ Thiên Chúa. Người sợ hy sinh, không chấp nhận trả giá, chắc chắn không phải là ngôn sứ thật, dù họ có mang danh là đại ngôn sứ chăng nữa!
05/01/2026(Xem: 495)
Đức Giêsu hoàn toàn vô tội, nhưng Ngài mang sứ mạng đặc biệt là gánh tội trần gian, và chấp nhận chịu chết để đền tội cho trần gian trước mặt Thiên Chúa. Vì thế, Ngài đã trở thành «hiện thân của tội lỗi», như thánh Phaolô nói: «Thiên Chúa đã biến Người thành hiện thân của tội lỗi vì chúng ta» (2Cr 5:21).
FOLLOW US
ĐĂNG KÝ NHẬN TIN MỚI
Thông tin của bạn được giữ kín tuyệt đối và có thể hủy đăng ký bất cứ lúc nào. Nhập địa chỉ email của bạn
THÔNG TIN LIÊN LẠC