Thần học Phủ định (Apophatic Theology)

29/04/20266:40 CH(Xem: 155)
Thần học Phủ định (Apophatic Theology)

Thần học Phủ định

(Apophatic Theology)

aaa
  
Mọi lời ta nói về Thiên Chúa đều không đủ,
không có lời nào diễn tả được Thiên Chúa cách chính xác,
vì Thiên Chúa vượt trên mọi hình ảnh, mọi khái niệm.
Thần học Phủ định (Apophatic Theology) là cách tiếp cận cho rằng:
Muốn hiểu Thiên Chúa, đôi khi phải nói Ngài «không phải là…» hơn là nói Ngài «là…».
Các nhà thần học lớn nhất của Giáo Hội như Augustinô, Tôma Aquinô… đã nói điều này từ rất sớm.

Trong lịch sử tư tưởng tôn giáo, con người luôn khao khát nói, diễn tả về Thiên Chúa, để mọi người yêu mến, thờ phượng và vâng phục Ngài. Nhưng Ngài Đấng tuyệt đối, vô hạn và vượt trên mọi giới hạn của trí tuệ, nên ngay khi bắt đầu nói, ta đã đứng trước một nghịch lý: bất cứ lời nào ta dùng đều thuộc về thế giới hữu hạn, trong khi Thiên Chúa thì không. Do đó, diễn tả về Ngài cách nào cũng không «đúng y như Ngài là» [1*]. Trước sự hạn chế và bất lực của ngôn ngữ con người, một phương cách đặc biệt đã hình thành trong thần học của Giáo Hội, đó là Thần học Phủ định (Apophatic Theology), mà bình thường các vị giảng dạy giáo lý hay các nhà thần học ít khi nói đến.
[*1] «Đúng y như Ngài là» hay «như thị» (如是 // exactly as He is // exactement comme tel qu’Il est).
Thần học phủ định không chỉ là một phương pháp thần học, mà còn là một thái độ triết học và tâm linh, là một lời nhắc rằng mọi khái niệm, dù tinh vi đến đâu, cũng chỉ là dấu chỉ mong manh, bất toàn hướng về một thực tại vượt xa chúng. Bài viết này mong độc giả hiểu được ít nhiều về nguồn gốc, nội dung và ý nghĩa của truyền thống ấy, cũng như vai trò của nó trong việc giúp con người tiếp cận điều không thể nắm bắt, nhưng vẫn luôn thôi thúc ta tìm kiếm.

1. «Thần học khẳng định»
Để hiểu về Thần học Phủ định (Apophatic Theology), người ta cần phải hiểu về Thần học Khẳng định (Cataphatic) trước đã. Vậy, Thần học Khẳng định là gì?
Từ nhỏ, khi học giáo lý, chúng ta được dạy: Thiên Chúa là Tình Yêu, là Đấng Toàn Ái, Toàn Năng, Toàn Tri, là Cha Nhân Lành. Những khẳng định ấy rất đúng, và đó chính là thần học khẳng định (cataphatic theology): nói Thiên Chúa «là gì». Cách này rất quan trọng, vì giúp ta dễ hiểu, dễ cầu nguyện, dễ tin tưởng. Nhưng… dù đúng, thì nó chỉ đúng một phần, vì Thiên Chúa không phải chỉ là như thế, mà Ngài còn lớn hơn tất cả những lời khẳng định ấy. Các nhà thần học lớn nhất của Giáo Hội đã nói điều này từ rất sớm.
Thật vậy, Thánh Augustinô từng nói: «Nếu Thiên Chúa mà bạn hiểu được, thì đó không phải là Thiên Chúa.» [2*] Thánh Thomas Aquinô, nhà thần học vĩ đại nhất của Giáo Hội,  cũng viết: «Bởi vì về Thiên Chúa, chúng ta không thể biết Ngài là gì, nhưng (chỉ có thể biết) Ngài không phải là gì…» [3*]. Điều này nghĩa là: Mọi lời ta nói về Thiên Chúa đều không đủ, không có lời nào diễn tả được Thiên Chúa cách chính xác, vì Thiên Chúa vượt trên mọi hình ảnh, mọi khái niệm, giống như khi nhìn mặt trời: ta thấy được ánh sáng, chứ không bao giờ thấy được mặt trời thế nào cả.

[*2] Nguyên văn: «Si comprehendis, non est Deus» (trong Sermo 52§16 [Bài giảng 52 số 16] của Augustine of Hippo.)

[*3] Nguyên văn: «Quia de Deo scire non possumus quid sit, sed quid non sit…» (Summa Theologiae, Prima Pars, Quaestio 3, Praemium của Thomas Aquinas).

Phủ định như vậy không làm đức tin của ta yếu đi. Trái lại, nó giúp đức tin trưởng thành hơn, quan niệm về Thiên Chúa cách hợp lý hơn.
 
2. «Thần học Phủ định» là gì?
Thần học Phủ định (Apophatic Theology) là cách tiếp cận cho rằng: Muốn hiểu Thiên Chúa, đôi khi phải nói Ngài «không phải là…» hơn là nói Ngài «là…». Ví dụ nói: Thiên Chúa không bị giới hạn, Ngài không thay đổi, Ngài không có hình tướng, Ngài không lệ thuộc vào thời gian, Ngài không giống bất cứ tạo vật nào. Nói «không phải» như vậy không phải là phủ nhận Thiên Chúa, mà là bảo vệ sự vô hạn của Ngài. Trong Kitô giáo, thần học phủ định (Apophatic Theology) không phải là một «trường phái riêng biệt» tách rời, mà là một dòng tư tưởng xuyên suốt, đặc biệt mạnh trong truyền thống Đông phương nơi các nhà thần học Á Châu và cũng hiện diện rõ trong truyền thống Tây phương [4*].
[*4] Nhìn tổng thể, có hai hướng lớn:

        1. Tây phương thiên về lý trí, khẳng định (cataphatic), nhưng vẫn giữ yếu tố phủ định như giới hạn cần thiết

        2. Đông phương nhấn mạnh Thiên Chúa là «mầu nhiệm không thể diễn tả»

    Những tên tuổi tiêu biểu của thần học phủ định: Pseudo-Dionysius (trung tâm), Gregory of Nyssa, Augustine, Thomas Aquinas, Meister Eckhart, Gregory Palamas, Maximus the Confessor, Vladimir Lossky.

     Các nhà thần học hiện đại có khuynh hướng Thần học Phủ định tại Tây Phương như Paul F. Knitter, Jacques Dupuis, John Hick, Karl Rahner, Henri De Lubac, Bruno Chenu; và tại Á Châu như Raimon Panikkar, M. M. Thomas, Samuel Rayan, D.S. Amalorpavadas, M. Amaladoss, Anthony De Mello, Choan-Seng-Song, Ahn Byung-Mu, John Wu, Kosuke Koyama, Catalino Arevalo, Aloysius Pieris, Peter C. Phan.

Thần học phủ định (apophatic) không phủ nhận những gì mà thần học khẳng định (cataphatic) đã xác định về Thiên Chúa, mà để giới hạn cách hiểu những xác định của Thần học khẳng định, đồng thời mở ra chiều sâu vô hạn cách hiểu về Thiên Chúa. Tóm lại, hai thứ thần học này không đối lập nhau mà cần lẫn nhau, vì không khẳng định thì không có gì để nói, mà không phủ định thì khiến người ta hiểu “quá mức” giới hạn điều đã xác định.

Hai thần học ấy chỉ có một mục tiêu là hiểu cho đúng về Thiên Chúa, nhưng theo hai cách khác nhau:

Thần học khẳng định nói về Thiên Chúa bằng các mệnh đề tích cực, chẳng hạn: «Thiên Chúa là tốt lành, là chân lý, là tình yêu…»

Thần học phủ định thanh luyện các mệnh đề xác định ấy, chẳng hạn đối với câu xác định trên: «Thiên Chúa không tốt lành theo cách hữu hạn của ta hiểu, Ngài vượt trên mọi khái niệm về tốt lành, về chân lý…»

Cả hai cùng hướng đến cùng một Thiên Chúa, nhưng theo hai bước khác nhau:

● Bước 1: khẳng định để hiểu;

● Bước 2: phủ định để tránh hiểu sai.

Tại sao Giáo Hội cần thần học phủ định? – Vì nếu chỉ dùng ngôn ngữ khẳng định, ta dễ thu nhỏ Thiên Chúa lại theo trí tưởng tượng của mình, biến Thiên Chúa thành «ông thần» giống con người, hiểu sai về sự vô hạn của Ngài. Giáo Hội cần tránh mô tả Thiên Chúa theo kiểu phóng chiếu (projection), nghĩa là dùng chính quan niệm hẹp hòi của mình,  hình ảnh của chính mình, để mô tả Thiên Chúa. Đó là điều mà Nhà văn Maurice Maeterlinck [5*] mô tả đại khái là: Tôi tin vị Thiên Chúa đã dựng nên con người theo hình ảnh của Ngài, nhưng không thể tin vị Thiên Chúa mà con người mô tả theo hình ảnh của họ. Thật vậy, Thiên Chúa không thể nào trùng hợp với hình ảnh mà ta có thể tạo ra. Thiên Chúa là Đấng vượt trên tất cả mọi hình ảnh, mọi khả năng mô tả của con người.
[*5] Maurice Maeterlinck (1862–1949), người Bỉ, là nhà văn, nhà thơ kiêm triết gia thuộc trường phái Tượng trưng. Ông là một nhân vật hàng đầu của phong trào Tượng trưng, ​​đã đoạt giải Nobel Văn học năm 1911 nhờ những vở kịch giàu trí tưởng tượng và mang tính nội tâm sâu sắc, khám phá các chủ đề về định mệnh, cái chết và nỗi khát khao tâm linh. Theo Maeterlinck, Chân lý tối hậu tức Thiên Chúa, không thể nắm bắt bằng khái niệm mà chỉ có thể cảm nhận trong im lặng và trực giác. Quan điểm của ông rất gần với thần học phủ định (apophatic theology) và tư tưởng tâm linh của Đông phương.
Thần học Phủ định rất giống quan điểm của Lão Tử khi ông viết: «Đạo khả đạo, phi Thường Đạo» (Đạo mà còn diễn tả ra được thì không phải là Đạo bất biến). Các tôn giáo Đông Phương cũng có nhiều câu với ý nghĩa tương tự [6*].
[*6] «Đạo khả đạo, phi Thường Đạo; Danh khả danh, phi Thường Danh» (Lão Tử Đạo Đức Kinh, Chương 1, câu 1). Trung quán luận của Phật giáo cũng viết: «Chân lý tối hậu là không thể nói; nói ra liền rơi vào sai lầm». Thiền tông Phật giáo (Zen) có một công án nổi tiếng: «Ngón tay chỉ mặt trăng không phải là mặt trăng.» Upanishad của Ấn giáo cũng có một công thức nổi tiếng khi nói về Chân lý Tối thượng: «Neti, neti» (न इति, न इति) nghĩa là «Không phải cái này, không phải cái kia»
Giáo Hội luôn luôn ý thức Thiên Chúa là một Hữu Thể không chỉ siêu việt (transcendent) mà còn siêu nghiệm (transcendental) nữa [7*]. Do đó, Thần học phủ định giúp ta: khiêm tốn trước mầu nhiệm Thiên Chúa, tránh đồng hóa Thiên Chúa với hình ảnh tương tự con người, mở lòng đón nhận vị Thiên Chúa vượt trên mọi hiểu biết, mọi kinh nghiệm [8*]. Nói cách đơn giản: Thần học khẳng định giúp ta đến gần Thiên Chúa. Thần học phủ định giúp ta không biến Thiên Chúa thành thần tượng.
[*7] Siêu việt là vượt khỏi mọi sự có thể suy nghĩ hay tưởng tượng.
     Siêu nghiệm là vượt khỏi mọi khả năng kinh nghiệm của con người. Tương tự như người mù bẩm sinh (mù từ khi sinh ra) không thể hiểu được mầu xanh, màu đỏ hay bất cứ mầu sắc nào… cho dù người sáng mắt cố gắng tìm đủ mọi ngôn ngữ để diễn tả sao cho người mù quan niệm được y như mình. Như vậy, có thể nói mầu sắc (xanh, đỏ, tím, vàng…) là siêu nghiệm đối với một người mù từ bẩm sinh.
[*8] Xin đan cử một vài ví dụ dễ hiểu. Một em bé đứng trước biển nói: «Biển xanh, Biển rộng, Biển sâu». Hoàn toàn đúng. Nhưng biển còn lớn hơn mọi lời em mô tả. Thiên Chúa cũng vậy. Đối với ánh sáng, ta thấy ánh sáng, nhưng không thể nắm bắt ánh sáng bằng tay. Thiên Chúa còn vượt xa ánh sáng. Hay nói về tình yêu, ta có thể nói «tình yêu là hy sinh», «tình yêu là tha thứ»… Nhưng tình yêu không bao giờ có thể gói gọn trong một định nghĩa. Thiên Chúa là Tình Yêu tuyệt đối, nên Thiên Chúa và Tình yêu của Ngài càng không thể bị đóng khung trong quan niệm về tình yêu của con người.
Thần học Phủ định giúp ta quan niệm về Thiên Chúa đúng hơn, hợp lý hơn. Khi biết rằng Thiên Chúa vượt trên mọi hình ảnh, ta sẽ bớt áp đặt quan điểm về Thiên Chúa theo quan điểm của mình, bớt thất vọng khi không hiểu được đường lối của Ngài, bớt sợ hãi khi gặp thử thách, đồng thời sẵn sàng mở lòng ra để Thiên Chúa dẫn dắt mình theo cách của Ngài.
Thần học Phủ định giúp ta cầu nguyện sâu xa hơn, không còn chỉ là «nói với Chúa», mà còn là ở trong sự thinh lặng của Chúa. Thinh lặng chính là ngôn ngữ của thần học phủ định.
Thần học Phủ định không phá bỏ đức tin, mà làm đức tin trưởng thành hơn. Thần học phủ định giúp ta: tin vào Thiên Chúa thật, không tin vào hình ảnh do trí tưởng tượng tạo ra. Từ đó, ta yêu mến Thiên Chúa sâu hơn, khiêm tốn hơn trước mầu nhiệm.
o0o
Tóm lại, Thần học phủ định dạy ta rằng Thiên Chúa lớn hơn mọi lời ta có thể nghĩ hay nói về Ngài. Và chính vì Ngài quá lớn, ta càng phải khiêm tốn khi diễn tả về Ngài, và nhất là càng không nên nghĩ Ngài cũng giống ta là thích những lời ca tụng ngoài môi miệng khi ta thờ phượng Ngài, hay cứ phải kể lể nhiều lời làm như Ngài cũng giống như mọi người [9*].
[*9] Cách thờ phượng hay cầu nguyện đẹp lòng Ngài nhất, chính là luôn luôn làm theo thánh ý Ngài, là yêu Ngài qua tha nhân, được Ngài biểu lộ qua nhiều câu Kinh Thánh:

@ «Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: “Lạy Chúa! lạy Chúa!” là được vào Nước Trời cả đâu! Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi. Trong ngày ấy, nhiều người sẽ thưa với Thầy rằng: “Lạy Chúa, lạy Chúa, nào chúng tôi đã chẳng từng nhân danh Chúa mà nói tiên tri, nhân danh Chúa mà trừ quỷ, nhân danh Chúa mà làm nhiều phép lạ đó sao?”  Và bấy giờ Thầy sẽ tuyên bố với họ: “Ta không hề biết các ngươi; xéo đi cho khuất mắt Ta, hỡi bọn làm điều gian ác!”» (Mt 7:21-23);

@ «Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em. Ở điểm này, mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy: là anh em có lòng yêu thương nhau» (Ga 13:34-35);

@ «Khi cầu nguyện, anh em đừng lải nhải như dân ngoại; họ nghĩ rằng: cứ nói nhiều là được nhậm lời. Đừng bắt chước họ, vì Cha anh em đã biết rõ anh em cần gì, trước khi anh em cầu xin» (Mt 6:7-8);

@ «Đức Chúa phán: “Ngần ấy ​hy lễ của các ngươi,  đối với Ta, nào nghĩa lý gì?  Lễ toàn thiêu chiên cừu, mỡ bê mập, Ta đã ngấy.  Máu bò, máu chiên dê, Ta chẳng thèm!  Khi các ngươi đến trình diện Ta,  ai khiến các ngươi phải giẫm lên khuôn viên của Ta?  Thôi, đừng đem những lễ vật vô ích đến nữa.  Ta ghê tởm khói hương;  Ta không chịu nổi ngày đầu tháng,  ngày sa-bát, ngày đại hội,  không chịu nổi những người cứ phạm tội ác  rồi lại cứ lễ lạt linh đình.  Ta chán ghét những ngày đầu tháng, những đại lễ của các ngươi.  Những thứ đó đã trở thành gánh nặng cho Ta,  Ta không chịu nổi nữa.  Khi các ngươi dang tay ​cầu nguyện, Ta bịt mắt không nhìn;  các ngươi có ​đọc kinh cho nhiều, Ta cũng chẳng thèm nghe.  Vì tay các ngươi đầy những ​máu.  Hãy rửa cho sạch, tẩy cho hết,  và vứt bỏ tội ác của các ngươi cho khỏi chướng mắt Ta.  Đừng làm ​điều ác nữa.  Hãy tập làm điều thiện, tìm kiếm lẽ công bằng,  sửa phạt người áp bức, xử công minh cho ​cô nhi,  biện hộ cho quả phụ”» (Is 1:11-17); v.v...

Nguyễn Chính Kết
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
FOLLOW US
ĐĂNG KÝ NHẬN TIN MỚI
Thông tin của bạn được giữ kín tuyệt đối và có thể hủy đăng ký bất cứ lúc nào. Nhập địa chỉ email của bạn
THÔNG TIN LIÊN LẠC