DIỄN VĂN CỦA ĐỨC GIÁO HOÀNG BENEDICTÔ XVI TRƯỚC QUỐC HÔI ĐỨC Thứ năm ngày 22 tháng 9 năm 2011

10/12/201811:38 SA(Xem: 439)
DIỄN VĂN CỦA ĐỨC GIÁO HOÀNG BENEDICTÔ XVI TRƯỚC QUỐC HÔI ĐỨC Thứ năm ngày 22 tháng 9 năm 2011
DIỄN VĂN CỦA ĐỨC GIÁO HOÀNG BENEDICTÔ XVI
     TRƯỚC QUỐC HÔI ĐỨC
  Thứ năm ngày 22 tháng 9 năm 2011


(Bản dịch của Bùi Đức Thái từ nguyên bản tiếng Đức)

Thưa ông Tổng thống,
Thưa ông Chủ tịch Quốc hội,
Thưa bà Thủ tướng,
Thưa bà chủ tịch Thượng viện,
Thưa các ông bà dân biểu,

Thật vinh dự và là niềm vui của tôi được phát biểu trước ngôi nhà cao quí này - trước Quốc hội của quê hương Đức của tôi, nơi tụ hội với tư cách là một cơ quan đại diện nhân dân, được bầu cử dân chủ để làm việc vì lợi ích của Cộng hòa Liên bang Đức. Tôi muốn cảm ơn ông Chủ tịch Quốc hội vì lời mời của ông cho bài phát biểu này, cũng như với những lời chào và sự đánh giá cao của ông khi đón tiếp tôi. Trong giờ phút này, tôi muốn thưa cùng quí vị, thưa quý bà và quí ông - chắc chắn cũng với tư cách là một người đồng hương, người biết rằng cả đời được kết nối với cội nguồn của mình, và theo dõi với sự chia sẻ số phận của quê hương Đức của mình. Nhưng lời mời cho bài phát biểu này đối với tôi là dành cho một giáo hoàng, giám mục của Rome, người mang trách nhiệm cao nhất của Công giáo Kitô. Với lời mời đó, quí vị thừa nhận vai trò của Tòa Thánh với tư cách là đối tác trong cộng đồng các dân tộc và cộng đồng các quốc gia. Từ trách nhiệm quốc tế này của mình, tôi muốn trình bày với quí vị một số suy nghĩ về các nền tảng của nhà nước pháp quyền tự do.

 

Hãy để tôi bắt đầu các suy nghĩ của mình về các nền tảng của pháp luật với một câu chuyện nhỏ trong Kinh Thánh. Trong cuốn đầu của Sách các vua đã kể lại rằng Thiên Chúa dành cho vị vua trẻ Salomon khi nhậm chức một điều ước. Vị vua trẻ đã xin gì cho mình vào lúc này ? Thành công - sự giàu có - cuộc sống lâu dài - tiêu diệt kẻ thù ? Ông ta không xin những điều này, mà xin:”Xin hãy cho người đày tớ của Ngài trái tim biết lắng nghe để cai trị dân của Ngài, và biết phân biệt điều lành và điều dữ” (CV 1,3-9). Kinh Thánh muốn nói với chúng ta, qua câu chuyện này, điều gì cuối cùng phải là quan trọng đối với một chính trị gia. Thước đo cuối cùng và nguyên do công việc của chính trị gia không phải là thành công, càng không phải là lời lãi vật chất. Chính trị phải là sự nỗ lực cho sự công lý, và qua đó tạo điều kiện cơ bản cho hòa bình. Tất nhiên, chính trị gia sẽ tìm sự thành công. Không có nó thì hoàn toàn không có khả năng thiết kế chính trị. Nhưng sự thành công được đặt dưới thước đo của công lý, ý chí về pháp luật và sự hiểu biết cho pháp luật. Thành công cũng có thể là sự quyến rũ và do đó, nó có thể mở ra con đường giả mạo luật pháp, cho sự hủy diệt công lý. “Nếu như lấy đi pháp luật thì cái gì còn lại cho nhà nước khác hơn là một băng cướp lớn ?”, thánh Augustino đã có lần nói.

 

Người Đức chúng ta biết từ chính kinh nghiệm của mình, rằng những lời lẽ này không phải là một con ma dọa nạt suông. Chúng ta đã nếm trải, rằng quyền lực và luật pháp tách biệt nhau, rằng quyền lực đứng chống lại luật pháp, chà đạp luật pháp và rằng nhà nước đã trở thành công cụ của sự phá hủy luật pháp. – trở thành băng đảng cướp được tổ chức rất tốt, đe dọa toàn thế giới, và đã có thể đẩy thế giới tới bờ vực thẳm. Phục vụ pháp luật và bảo vệ khỏi sự thống trị của bất công là, và vẫn là nhiệm vụ cơ bản của chính trị gia.  Trong một thời điểm lịch sử, khi quyền lực rơi xuống con người, điều đến nay không thể tưởng tượng được, thì nhiệm vụ này càng trở thành khẩn thiết. Con người có thể phá hủy thế giới. Anh ta có thể phù phép chính mình. Anh ta có thể, kiểu như là, tạo ra con người và ngăn chận con người là người. Làm thế nào chúng ta có thể nhận ra điều gì đúng ? Chúng ta có thể phân biệt giữa tốt và xấu, giữa luật pháp thực sự và luật pháp hình thức như thế nào ? Điều ước của Salomon vẫn là vấn nạn quyết định mà chính khách và nền chính trị ngày nay cũng phải đối diện.

 

Trong phần lớn các vấn nạn cần điều chỉnh về luật pháp thì số đông có thể là một tiêu chí đủ. Nhưng trong các vấn đề cơ bản của luật pháp có liên quan đến nhân phẩm của con người và liên quan đên nhân loại, thì nguyên lý số đông sẽ không đủ. Đó là điều rõ ràng: Mỗi người có trách nhiệm phải tìm kiếm các tiêu chí cho định hướng của mình để xây dựng pháp luật. Vào thế kỷ thứ ba, nhà thần học vĩ đại Origenes đã đưa ra lập luận cho sự phản kháng của các Ki-tô hữu chống lại một số nhất định các qui định luật pháp có hiệu lực như sau:”Khi có người ở chỗ những người Skythen có các luật lệ vắng bóng Thiên chúa, và người đó bị bắt buộc sống chung với họ …, thì anh ta sẽ hành xử cách rất hợp lý, khi nhân danh quyền của sự thật, điều mà đối với người Skythen là phạm pháp, cùng với những người cùng chí hướng cũng chống lại kỷ cương nơi đó trong việc thành lập những hiệp hội…” [2].

 

Những người kháng chiến chống chế độ Nazi và những chế độ toàn trị khác đã hành xử xuất phát từ xác tín này, và do đó đã mang lại cho luật pháp và toàn thể nhân loại một sự phục vụ. Đối với những người này, điều hiển nhiên không thể tranh cãi là trên thực tế, luật pháp hiện hành là sự bất công. Nhưng, trong các quyết định của một chính trị gia dân chủ, câu hỏi về những gì bây giờ tương ứng với luật pháp của sự thật, điều gì thực sự là đúng và có thể trở thành luật, không phải là hiển nhiên như nhau. Liên quan đến các vấn đề nhân học cơ bản thì luật pháp là gì, và điều gì có thể trở thành luật có giá trị, thì cho đến ngày nay vẫn không dễ dàng. Câu hỏi, làm thế nào người ta có thể nhận ra các quyền thực sự, và như thế có thể phục vụ công lý khi làm luật, thì chưa từng có thể được trả lời dễ dàng, và câu hỏi đó ngày nay, với vô ván hiểu biết và khả năng của chúng ta, lại còn trở thành khó khắn hơn nhiều nữa.

 

Làm thế nào để người ta nhận ra điều gì là đúng? Trong lịch sử, hệ thống pháp luật hầu như dựa trên tôn giáo một cách xuyên suốt: Xuất phát từ cái nhìn vào thần linh mà phán định điều gì đúng luật giữa con người. Ngược với các tôn giáo lớn khác, Kitô giáo không bao giờ giao trước cho nhà nước và xã hội quyền mạc khải, và trật tự pháp lý từ mặc khải. Thay vào đó, Ki-tô giáo chỉ ra tự nhiên và lý tính là các nguồn luật chân chính – dựa trên sự hài hòa của lý tính khách quan và chủ quan, điều tất nhiên giả thiết trên sự hình thành cả 2 lĩnh vực trong lý tính sáng tạo của Thiên Chúa.

 

Với điều đó, các nhà thần học Ki-tô giáo đã tham gia phong trào thần học và tư pháp đã được hình thành từ thế kỷ thứ 2 trước Công nguyên. Trong nửa đầu thế kỷ thứ hai trước Công nguyen, một cuộc gặp gỡ đã được hình thành giữa luật tự nhiên về xã hội của các triết gia khắc kỷ và các bậc thầy có ảnh hưởng về luật La Mã [3]. Trong cuộc tiếp xúc này, văn hóa pháp lý phương Tây đã được sinh ra, vốn là và đang có tầm quan trọng quyết định đối với văn hóa pháp lý của nhân loại. Từ kết nối trước Ki-tô giáo giữa luật học và triết học này, con đường đi qua thời Trung Cổ Kitô giáo vào phát triển pháp luật của thời khai sáng đến Tuyên ngôn nhân quyền và đến bản Hiến pháp của chúng ta, mà nhân dân ta vào năm 1949 đã nhận biết "nhân quyền bất khả xâm phạm và bất khả chuyển nhượng là cơ sở của mỗi cộng đồng con người, của Hòa bình và Công lý trên thế giới ".

 

Đối với sự phát triển của pháp luật và cho sự phát triển của nhân loại, điều quyết định là các nhà thần học Kitô giáo đặt mình vào mặt triết học chống lại luật pháp tôn giáo được yêu cầu bởi niềm tin vào các thần thánh, họ thừa nhận lý tính và thiên nhiên trong sự tương hợp của chúng là nguồn gốc của pháp lý. Phao-lô đã đưa ra quyết định này trong Thư gửi cho người La mã khi ông nói: "Nếu người ngoại không có luật (Torah của Israel), từ tự nhiên họ làm những điều được đòi hỏi trong luật, thì họ ... chính họ là luật , Qua đó, họ cho thấy rằng yêu cầu của luật được viết trong trái tim của họ; lương tâm của họ làm chứng điều đó ... "(Rô-ma 2: 14f). Ở đây xuất hiện hai khái niệm cơ bản về tự nhiên và lương tâm, theo đó lương tâm không gì khác hơn là trái tim biết lắng nghe của Solomon, là lý tính được mở ra cho ngôn ngữ của hiện hữu.

 

Nếu qua đó, đến thời kỳ Khai sáng, cho đến thời kỳ Tuyên ngôn nhân quyền sau thế chiến thứ hai và đến thời kỳ hình thành bản Hiến pháp của chúng ta, vấn nạn về cơ sở của việc làm luật dường như được giải quyết, thì trong nửa thế kỷ sau có một sự thay đổi to lớn. Tư tưởng về luật tự nhiên ngày nay được coi là một học thuyết Công giáo đặc biệt, không đáng để thảo luận bên ngoài khu vực Công giáo, đến mức người ta gần như xấu hổ khi đề cập đến từ đó. Tôi muốn nhắc đến một cách ngắn gọn tại sao tình trạng này lại nảy sinh. Về cơ bản, trước hết là luận thuyết cho rằng giữa cái Là và cái Nên có một hố sâu không bắc qua được. Từ cái Là không thể có cái Nên tiếp theo, vì liên quan đến hai lãnh vực hoàn toàn khác nhau. Lý do cho điều này là thời gian qua sự nhận thức thực chứng về Tự nhiên hầu như được chấp nhận phổ quát. Nếu người ta xem Tự nhiên - theo lời của H. Kelsen - là "tổng hợp các dữ kiện tồn tại ràng buộc với nhau như là nguyên nhân và ảnh hưởng", thì trên thực tế không có chỉ thị đạo đức nào có thể nổi lên từ nó. [4]

 

Một khái niệm thực chứng về Tự nhiên hiểu Tự nhiên hoàn toàn là chức năng, giống như khoa học tự nhiên nhận ra nó, không thể xây dựng cầu nối đạo đức với pháp luật, nhưng đến lượt nó chỉ có thể tạo ra những câu trả lời chức năng. Thế nhưng điều tương tự cũng đúng cho Lý tính trong một nhận thức thực chứng, được nhìn nhận cách rộng rãi là khoa học duy nhất. Theo đó, những gì không thể xác minh hoặc có thể giả mạo thì không thuộc về lĩnh vực Lý tính theo nghĩa nghiêm ngặt. Do đó, đạo đức và tôn giáo phải được gán cho không gian của chủ quan, và rơi ra khỏi cõi của lý trí theo nghĩa chặt của từ đó. Nơi nào có sự thống trị duy nhất của lý tính thực chứng - và đó là trường hợp phổ biến trong ý thức công chúng của chúng ta -, thì nơi đó nguồn cội nhận thức cổ điển về đạo đức và pháp luật bị loại ra. Đây là một tình huống đầy kịch tính liên quan đến tất cả mọi người, và yêu cầu một cuộc thảo luận công khai là thiết yếu, mà lời mời khẩn cấp là ý định chủ yếu của bài phát biểu này.

 

Phương án thực chứng về thiên nhiên và Lý tính, quan điểm thế giới thực chứng như một toàn thể là một phần vĩ đại của kiến ​​thức con người và khả năng của con người, mà chúng ta không thể nào được loại bỏ. Nhưng tự nó, với tư cách toàn thể, không phải là một nền văn hóa phù hợp và đầy đủ cho sự Là-con-người trong tính bao la của con người. Nơi nào Lý tính thực chứng nhìn mình như là văn hóa đầy đủ duy nhất, và trục xuất tất cả các thực tế văn hóa khác vào trong tình trạng văn hóa phụ, thì nơi đó nó làm nhỏ con người đi, vì nó thực sự đe dọa nhân tính của con người.

 

Tôi nói điều này đặc biệt trong bối cảnh châu Âu, trong đó phần lớn tìm cách chỉ thừa nhận chủ nghĩa thực chứng là một nền văn hóa chung, và là nền tảng chung cho việc hình thành pháp luật, gộp tất cả những quan điểm khác và các giá trị của nền văn hóa của chúng ta vào tình trạng văn hóa phụ, và như vậy, Châu Âu đẩy các nền văn hóa khác của thế giới vào tình trạng vô văn hóa và đồng thời thách thức các luồng cực đoan và quá khích. Lý tính thực chứng được đưa ra độc chiếm mà không thể nhận thức được bất cứ điều gì ngoài chức năng thì tương tự như những tòa nhà bê tông không có cửa sổ, trong đó chúng ta tự cung cấp khí hậu và ánh sáng, chứ không còn muốn cập nhật gì từ thế giới xa xăm của Thiên Chúa. Nhưng qua đó, chúng ta không thể che giấu sự thật rằng trong thế giới tự tạo này, chúng ta âm thầm rút ra từ các dự trữ của Thượng Đế, rồi biến đổi thành sản phẩm của mình. Các cửa sổ phải lại bị xé dỡ ra, chúng ta phải một lần nữa nhìn thấy sự bao la của thế giới, nhìn bầu trời và trái đất và học dùng tất cả một cách đúng đắn.

 

Nhưng làm như thế nào ? Làm sao chúng ta tìm được vào trong sự bao la, vào cái toàn thể ? Làm thế nào lý tính có thể tìm được độ lớn của nó mà không trượt vào sự phi lý ? Làm thế nào Tự nhiên lại xuất hiện trong chiều sâu, trong yêu sách và với sự chỉ bảo của nó ? Tôi nhắc nhớ lại một quá trình trong lịch sử chính trị mới đây, với hy vọng không bị hiểu lầm và không gây ra quá nhiều sự tranh luận một chiều.

 

Tôi muốn nói rằng sự xuất hiện của phong trào sinh thái trong nền chính trị Đức từ những năm 70, mặc dù rõ ràng đã không phá dỡ cửa sổ, nhưng đã từng và vẫn còn là sự kêu gào cho không khí trong lành mà người ta không thể bỏ ngoài tai, và không thể đẩy sang một bên, vì người ta tìm thấy trong đó quá nhiều sự vô lý. Những người trẻ đã nhận ra rằng có điều gì đó trong cách đối xử của chúng ta với thiên nhiên là sai. Rằng vật chất không chỉ là vật liệu cho việc làm của chúng ta, nhưng trái đất mang trên mình nó phẩm giá của mình và chúng ta phải tuân theo sự chỉ dẫn của nó. Rõ ràng là tôi không tuyên truyền cho một đảng phái chính trị cụ thể ở đây - không có gì xa lạ với tôi hơn điều đó.

Nếu có điều gì đó không đúng trong cách đối xử của chúng ta với thực tế, thì tất cả chúng ta đều cần phải suy nghĩ nghiêm túc lại về cái toàn thể và tất cả đều phải hướng đến câu hỏi về nền tảng của văn hóa chúng ta nói chung. Xin vui lòng cho phép tôi dừng ở lại điểm này một chút. Tầm quan trọng của hệ sinh thái đến nay là không thể tranh cãi. Chúng ta phải lắng nghe ngôn ngữ của thiên nhiên và đáp ứng một cách thích hợp. Tuy nhiên, tôi muốn nhấn mạnh một cách rõ ràng một điểm mà đối với tôi dường như vẫn bị bỏ qua: Cũng có một hệ sinh thái của con người. Người ta cũng có một bản chất mà anh ta phải tôn trọng và anh ta không thể tùy tiện thao túng. Con người không chỉ là sự tự do tự tạo cho riêng mình. Con người không tự làm ra mình. Con người là tinh thần và ý chí, nhưng anh ta cũng là Tự nhiên, và ý chí của anh ta là đúng khi anh ấy chú ý đến thiên nhiên, nghe nó và nhìn nhận mình như mình là và như mình không tự tạo ra mình. Như thế, và chỉ như thế mới đạt được sự tự do đích thực của con người.

 

Hãy quay trở lại với các khái niệm cơ bản về Tự nhiên và Lý tính mà từ đó chúng ta đã bắt đầu. Lý thuyết gia vĩ đại về chủ nghĩa thực chứng pháp lý, Kelsen, ở tuổi 84 - 1965 - đã từ bỏ chủ nghĩa nhị nguyên của cái Là và cái Nên. (Nó an ủi tôi rằng ở mức 84 người ta rõ ràng có thể nghĩ điều gì đó hợp lý.) Trước kia ông ấy nói rằng các tiêu chuẩn chỉ có thể đến từ ý chí. Do đó, Tự nhiên chỉ có thể chứa các chuẩn mực - ông nói thêm - nếu một ý chí đưa những tiêu chuẩn này vào nó. Đến lươt điều này - ông nói - sẽ giả định một vị thần sáng tạo mà ý chí của vị ấy đi vào Tự nhiên. "Thảo luận về sự thật của niềm tin này thì hoàn toàn không có triển vọng", ông lưu ý. [5] Tôi muốn hỏi – Thật sao ?

 

Có thực sự vô nghĩa khi xem xét liệu Lý tính khách quan, điều tự thể hiện trong tự nhiên, không giả định một Lý tính sáng tạo, một Tinh thần của Đấng Sáng tạo? Ở điểm điểm này, di sản văn hóa của châu Âu nên đến trợ giúp chúng ta. Ý tưởng về các quyền con người, ý tưởng về sự bình đẳng của tất cả mọi người trước pháp luật, sự công nhận tính bất khả xâm phạm của nhân phẩm trong mỗi con người, và kiến ​​thức về trách nhiệm của con người đối với hành động của họ đã được phát triển từ niềm tin vào một Thiên Chúa sáng tạo. Những phát hiện về Lý tính này tạo thành ký ức văn hóa của chúng ta. Phớt lờ nó, hoặc coi nó như một quá khứ đơn giản, sẽ là một sự cắt cụt nền văn hóa của chúng ta nói chung và sẽ tước đi sự toàn vẹn của nó.

 

Văn hóa châu Âu có nguồn gốc từ cuộc gặp gỡ của Jerusalem, Athens và Rome - từ cuộc gặp gỡ giữa niềm tin Thiên Chúa của Israel, lý tính triết học của người Hy Lạp và tư duy pháp lý của Rome mà hình thành. Cuộc gặp gỡ tay ba này tạo nên bản sắc bên trong của châu Âu. Nó có trong nhận thức về trách nhiệm của con người trước mặt Thiên Chúa và trong sự thừa nhận nhân phẩm bất khả xâm phạm của con người, của mỗi con người, nó thiết lập các thước đo của pháp luật để bảo vệ chúng ta mà chúng ta đã từ bỏ trong giờ phút lịch sử của mình.

 

Vị vua trẻ Solomon trong giờ nhận chức được đưa ra một điều ước. Nếu chúng ta, các nhà lập pháp của ngày hôm nay, được đưa ra một điều ước thì thế nào ? Chúng ta sẽ xin gì? Tôi nghĩ, ngay cả ngày nay, cuối cùng chúng ta không thể mong muốn bất cứ điều gì khác hơn là một trái tim biết nghe - khả năng phân biệt Sự Lành và Sự Dữ và như thế để thiết lập pháp luật chân chính, để phục vụ công lý và hòa bình.

 

Cảm ơn sự quan tâm của quí vị !

 


[1] Thành đô Thiên Chúa (De civitate Dei), IV, 4, 1.

[2] Người viết (Contra Celsum) Nguyên bản. 428 (Koetschau); xem. A. Fürst, Chủ nghĩa độc thần và quân chủ. Về mối liên hệ giữa sự cứu rỗi và sự cai trị trong thời cổ đại. Trong: Thần học 81 (2006) 321-338; Trích dẫn S. 336; xem thêm: J. Ratzinger, Sự thống nhất của các quốc gia. Tầm nhìn của các giáo phụ (Salzburg – München 1971) 60.

[3] Xem. W. Waldstein, “Khắc ghi vào tim. Luật Tự nhiên là cơ sở cho xã hội con người” (Augsburg 2010) 11ff; 31-61.

[4] Waldstein, như trên, 15-21.

[5] Trích theo Waldstein, như trên, 19.

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
Ý KIẾN MỚI NHẤT
Ươc mong đây là những nhận định và đề nghị rất thích ứng được đón nhận, nghiên cứu và uyển chuyển áp dụng trước một thực trạng xã hội "bị ô nhiểm" không dễ dàng "thanh tẩy" một sớm một chiều. May thay, kho tàng Đưc Tin, Đức Cậy và Đức Ái của GH Công giáo luôn là Niềm Hy Vọng được khai mở và áp dụng một cách khôn ngoan bởi những người có trách nhiệm Đạo Đời nhằm phục vụ lợi ích tinh thần cho Dân Chúa và phục vụ Công bằng cho một cộng đồng xã hội Việt Nam.
FOLLOW US
ĐĂNG KÝ NHẬN TIN MỚI
Thông tin của bạn được giữ kín tuyệt đối và có thể hủy đăng ký bất cứ lúc nào. Nhập địa chỉ email của bạn
THÔNG TIN LIÊN LẠC